Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. CHƯƠNG 19: Siêu âm Mạch máu, Nhi khoa và Siêu âm tại giường

42 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


CHƯƠNG 19: Siêu âm Mạch máu, Nhi khoa và Siêu âm tại giường
Vascular, Pediatric, and Point-of-Care Ultrasound
Peter S. Wang, MD
Learning Radiology, 19, 223-235


Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về một số ứng dụng khác của siêu âm (Ultrasound – US), bao gồm siêu âm mạch máu, các ứng dụng siêu âm trong nhi khoa và siêu âm tại giường.

Câu hỏi Tình huống 19

Đây là hình ảnh siêu âm lát cắt dọc vùng ngực/hạ sườn phải ở một bệnh nhân 75 tuổi bị khó thở ngày càng tăng do suy tim sung huyết. Biến chứng nào của bệnh lý đó được mô tả trên hình ảnh? Câu trả lời có ở cuối chương này.

Ant, Phía trước; F, Phía chân; H, Phía đầu; L, Gan; Post, Phía sau.

 

Siêu âm Mạch máu

Siêu âm mạch máu sử dụng cả siêu âm B-mode (thang xám) và siêu âm Doppler – một sự kết hợp được gọi là siêu âm Duplex – để hiển thị hình thái của các mạch máu đồng thời ghi lại hướng dòng chảy và vận tốc của máu đang di chuyển trong các mạch máu đó.

Siêu âm Duplex đảm bảo rằng các phép đo hướng và dòng chảy được thực hiện tại đúng vị trí giải phẫu cần quan tâm.

Hai loại siêu âm Doppler phổ biến nhất là Doppler màu và Doppler phổ.

  • Doppler màu có thể cung cấp thông tin cụ thể nhưng có giới hạn trên một vùng tương đối lớn, trong khi Doppler phổ cung cấp thông tin chính xác hơn về một vùng nhỏ hơn. Hai chế độ này bổ sung cho nhau.

ĐIỂM QUAN TRỌNG

  • Siêu âm Doppler màu chồng màu lên hình ảnh thang xám để chỉ ra sự hiện diện và hướng của dòng máu đang di chuyển. Theo quy ước, màu đỏ chỉ thị sự di chuyển về phía đầu dòmàu xanh chỉ thị sự di chuyển ra xa đầu dò (Hình 19.1).

Hình 19.1 Hình ảnh Doppler màu. Theo quy ước, Doppler màu mô tả dòng chảy về phía đầu dò là màu đỏ và dòng chảy ra xa đầu dò là màu xanh. Đây là hình ảnh của tĩnh mạch lách (mũi tên cong). Khi được ghi hình từ phía trước tại đường giữa, tĩnh mạch lách ở bên trái đường giữa có dòng máu chảy ra trước về phía đầu dò (mũi tên đỏ) và ở bên phải đường giữa có dòng máu chảy ra sau ra xa đầu dò (mũi tên xanh). Do đó, Doppler màu mô tả dòng chảy vừa có màu đỏ vừa có màu xanh trong cùng một mạch máu. Trong suốt chương này, nhiều hình ảnh sẽ có một hoặc nhiều chữ viết tắt sau để hỗ trợ định hướng: Ant, Phía trước; F, Phía chân của bệnh nhân; H, Phía đầu của bệnh nhân; Lt hoặc L, Trái; Post, Phía sau; Rt hoặc R, Phải.

  • Siêu âm Doppler phổ được hiển thị dưới dạng sóng, là một biểu đồ biểu diễn vận tốc dòng chảy được đo theo thời gian trong một khu vực tập trung. Nó được mô tả dọc theo trục X (thời gian) và Y (vận tốc). Theo quy ước, dòng chảy về phía đầu dò được hiển thị phía trên đường cơ sở (baseline) và dòng chảy ra xa được hiển thị phía dưới đường cơ sở (Hình 19.2).

Hình 19.2 Hình ảnh Doppler màu và phổ bình thường. (A) Hình ảnh này của tĩnh mạch cửa chính cho thấy hướng dòng chảy bình thường được mô tả bằng màu đỏ (hướng về phía đầu dò) và ngoại vi của gan. (B) Ở một bệnh nhân khác bị xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa, hướng dòng chảy trong tĩnh mạch cửa chính bị đảo ngược và chảy về phía rốn gan. Do đó, hướng dòng chảy được mô tả bằng màu xanh (ra xa đầu dò). Dạng sóng Doppler phổ nằm bên dưới phần màu của hình ảnh siêu âm và được vẽ trên thang đo thời gian-vận tốc với trục x mô tả thời gian và trục y mô tả vận tốc. Dạng sóng tĩnh mạch cửa trong (A) nằm trên đường cơ sở (đường cơ sở là đường ngang mỏng) cho thấy dòng máu chảy về phía đầu dò. Dạng sóng trong tĩnh mạch cửa chính trong (B) nằm dưới đường cơ sở cho thấy dòng máu chảy ra xa đầu dò.

  • Có những dạng sóng Doppler phổ động mạch đặc trưng, tùy thuộc vào sức cản đối với dòng máu trong giường mạch mà động mạch đó cung cấp (Hình 19.319.4). Dạng sóng tĩnh mạch cũng có thể thay đổi tùy thuộc vào khoảng cách của chúng đến tim, chức năng tim và thì hô hấp.

Hình 19.3 Hình ảnh Doppler màu và phổ bình thường của động mạch gan: Sức cản thấp. Các cơ quan tận cùng như gan có một giường mạch với sức cản thấp đối với dòng máu từ các động mạch cung cấp của chúng vì chúng cần nguồn cung cấp máu liên tục. Do đó, dòng chảy trong động mạch gan thường hướng về gan trong suốt chu kỳ tim trong cả thì tâm thu (mũi tên cong) và thì tâm trương (mũi tên thẳng).

Hình 19.4 Hình ảnh Doppler màu và phổ bình thường của động mạch đùi chung: Sức cản cao. Các chi khi nghỉ ngơi thường có một giường mạch co lại và do đó có sức cản cao đối với dòng chảy từ các động mạch cung cấp của chúng. Do đó, dòng chảy trong động mạch đùi chung (cung cấp cho chi dưới) thường có dạng sóng sức cản cao. Dòng chảy hướng về phía chân (trên đường cơ sở) trong áp suất cao của thì tâm thu (mũi tên cong) và có thể dừng lại hoặc đảo ngược (dưới đường cơ sở) trong áp suất thấp của thì tâm trương (mũi tên thẳng).

Nếu một tín hiệu siêu âm được phản xạ từ một vật thể đứng yên, tín hiệu trở về về mặt lý thuyết sẽ giữ nguyên tần số mà nó đã được truyền đi. Nhưng dựa trên các nguyên lý của siêu âm Doppler, tần số của một tín hiệu được phản xạ từ các vật thể chuyển động, chẳng hạn như các tế bào máu, sẽ thay đổi tỷ lệ với vận tốc của mục tiêu.

Với thông tin này, chúng ta có thể khảo sát các mạch máu để xác định xem chúng có bị hẹp hay tắc nghẽn hay không vì hẹp động mạch dẫn đến sự gia tăng vận tốc máu qua khu vực bị hẹp. Nếu chúng ta dần dần di chuyển đầu dò Doppler dọc theo đường đi của một mạch máu, chúng ta có thể xác định được một tổn thương hẹp và vị trí của nó.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ