Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Chẩn đoán và điều trị suy tĩnh mạch nông chi dưới

6 phút đọc
  1. ĐẠI CƯƠNG

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý khá phổ biến hiện nay, ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng làm việc và thậm chí là tính mạng của bệnh nhân. Tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng liên quan với thay đổi lối sống của xã hội. Những công việc ngồi hoặc đứng nhiều và tình trạng béo phì là những yếu tố nguy cơ của bệnh lý suy tĩnh mạch. Theo nghiên cứu VCP, tần suất giãn tĩnh mạch ở người trưởng thành Việt Nam là 9-30%. Tính phổ biến, sự gia tăng tỉ lệ suy tĩnh mạch mạn tính và ảnh hưởng của bệnh lý này lên khả năng làm việc và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đặt ra đòi hỏi có những phương thức điều trị hiệu quả để giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng, tránh những biến chứng muộn và cải thiện khả năng lao động.

  1. CHẨN ĐOÁN

2.1. Triệu chứng:

– Tức, đau, nặng chân khi ngồi hoặc đứng, giảm khi ngồi hoặc khi nâng cao chân hoặc đi vớ áp lực, cần phân biệt với đau chân do những nguyên nhân cơ khớp, đau cách hồi của bệnh lý động mạch.

– Sưng, mỏi vùng mắt cá chân.

– Ngứa.

– Co cơ (chuột rút) vào ban đêm.

– Chân không yên, bồn chồn.

– Khám lâm sàng có thể thấy  những triệu chứng thực thể như phù chân, tĩnh mạch mạng nhện, búi dãn tĩnh mạch nông, loạn dưỡng da, chàm, loét…

2.2. Chẩn đoán siêu âm:

– Siêu âm là phương tiên chẩn đoán không xâm nhập, an toàn, hiệu quả, đáng tin cậy.

– Siêu âm đánh giá cả hệ tĩnh mạch sâu và nông, ít nhất là phải khảo sát tĩnh mạch đùi chung và tĩnh mạch khoeo để đảm bảo không có tắc nghẽn và trào ngược (I-A).

– Khuyến cáo siêu âm lưu ý đến bốn yếu tố: quan sát hình ảnh, khả năng đè ép, dòng chảy tĩnh mạch bao gồm cả đo thời gian dòng trào ngược và biện pháp làm tăng dòng chảy.

– Siêu âm tư thế đứng để đánh giá suy van tĩnh mạch bằng một trong hai cách: hoặc làm tăng áp lực ổ bụng bằng nghiệm pháp Valsalva, thường dùng đánh giá quai tĩnh mạch hiển và đùi, hoặc ở những đoạn xa thường dùng cách ép và thả bằng tay.

– Thời gian trào ngược bất thường cho tĩnh mạch đùi và khoeo là lớn hơn 1 giây, và hơn 0,5 giây đối với tĩnh mạch hiển lớn, tĩnh mạch hiển bé, tĩnh mạch chày, đùi sâu.

– Bệnh nhân suy tĩnh mạch nên được kiểm tra siêu âm tĩnh mạch xuyên cẩn thận. Suy tĩnh mạch xuyên khi dòng chảy ngược ra  tĩnh mạch nông dài hơn 0,5 giây và đường kính lớn hơn hoặc bằng 3,5 mm.

2.3. Phân độ:

-Sử dụng bảng phân độ CEAP:

Độ 0 (C0): Không thấy các dấu hiệu giãn tĩnh mạch (nhìn hoặc sờ).

Độ 1 (C1): Có giãn mao mạch hoặc tĩnh mạch dạng lưới

Độ 2 (C2): Giãn tĩnh mạch.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ