Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Ngoại Tiết niệu BẢN ĐỌC THỬ

Chấn thương thận kín

7 phút đọc

ĐẠI CƯƠNG.

Thận là một cơ quan nằm sâu sau phúc mạc, ở vùng hố thắt lưng hai bên, được bảo vệ bởi thành cơ và khung xương nên chấn thương thận thường ít gặp, chỉ chiếm 1 – 5% trong tổng số các dạng chấn thương nói chung, tuy nhiên lại chiếm tỉ lệ hàng đầu trong chấn thương tiết niệu sinh dục.

Nhu mô thận lại rất giòn, vì vậy rất dễ bị vỡ do chấn thương nhưng có sự tưới máu và nuôi dưỡng tốt nên rất dễ liền sẹo và nhanh chóng phục hồi chức năng.

Khi bị tổn thương, đặc biệt khi có rách bao Gerota máu và nước tiểu tràn ra các tổ chức quanh thận dễ gây nên sự nhiễm độc, nhiễm khuẩn.

Nguyên nhân chấn thương thận thường gặp chủ yếu do tai nạn giao thông, sau đó đến tai nạn lao động và các tai nạn sinh hoạt khác.

Ngoài thận bị tổn thương, bệnh nhân có thể gặp các tổn thương phối hợp các cơ quan khác (chiếm tỉ lệ 30 – 40%). Và vì vậy trong chấn thương thận kín, sốc chấn thương cũng thường gặp, chiếm tỉ lệ trên dưới 50% các trường hợp.

CƠ CHẾ CHẤN THƯƠNG.

Cơ chế trực tiếp:

Chủ yếu gặp chấn thương thận kín theo cơ chế trực tiếp; nguyên nhân gây chấn thương trực tiếp là do va đập vào vùng thận từ các hướng tới.

Cơ chế gián tiếp:

Chấn thương thận kín theo cơ chế gián tiếp rất hiếm gặp, do sự co rút đột ngột các khối cơ vùng thắt lưng hoặc tăng áp lực đột ngột ổ bụng trong các động tác như cử tạ, nâng vác nặng, nhảy từ trên cao xuống… và nếu có gặp thì thường xảy ra trên thận bệnh lý (ví dụ: thận đa nang, thận ứ nước do sỏi).

TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU BỆNH LÝ.

Tổn thương giải phẫu bệnh lý tại thận:

Được chia làm 5 loại:

Nứt nhu mô dưới vỏ xơ: đường nứt ngắn và không sâu, không thông vào khoang đài – bể thận, vỏ xơ không bị rách và thường tạo khối tụ máu dưới bao thận.

Nứt nhu mô thận kèm theo rách vỏ xơ: đường nứt thông với bao mỡ ngoài hố thận tạo nên khối máu tụ quanh thận.

Rách vỏ xơ, nứt nhu mô thông với đài – bể thận: máu và nước tiểu chảy ra hố thận tạo nên khối dịch tụ quanh thận, đồng thời máu chảy vào đài – bể thận – niệu quản thông xuống dưới bàng quang gây nên đái máu toàn bãi.

Hình 2.5: Tổn thương giải phẫu bệnh lý trong chấn thương thận kín.

A.Độ I; B. Độ II; C. Độ III; D và E. Độ IV;  F; G; H. Độ V.

Giập nát khu trú một phần của thận: cực dưới, cực trên hoặc phần thân thận.

Giập nát toàn bộ thận, tổn thương cuống thận (mạch máu, thần kinh, bể thận – niệu quản), đầy là loại tổn thương nặng gây chảy và mất máu nhiều.

Các tổn thương phối hợp:

Các tổn thương phối hợp trong chấn thương thận kín chiếm từ 30 – 40% các trường hợp, các tạng thường bị tổn thương phối hợp bao gồm: các tạng ổ bụng (gan, lách, tạng rỗng), phổi và màng phổi, tứ chi, sọ não, cột sống…

TRIỆU CHỨNG.

Triệu chứng lâm sàng:

Triệu chứng toàn thân:

Sốc là một triệu chứng thường gặp, chiếm tỉ lệ khoảng 40 – 50% các trường hợp chấn thương thận đặc biệt xảy ra trong các trường hợp có tổn thương phối hợp.

Hội chứng nhiễm khuẩn có thể gặp, xảy ra khi bệnh nhân đến muộn.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ