Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Điện tâm đồ lâm sàng của Goldberger 10e. Chương 21. Ngừng tim và Các hội chứng tử vong tim đột ngột

33 phút đọc

Điện tâm đồ lâm sàng của Goldberger: Cách tiếp cận đơn giản hóa, Ấn bản thứ 10.
Bản dịch và chú giải tiếng Việt bởi Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Hiệu đính: TS.Bs. Lê Nhật Huy


Chương 21. NGỪNG TIM VÀ CÁC HỘI CHỨNG TỬ VONG TIM ĐỘT NGỘT
Sudden Cardiac Arrest and Sudden Cardiac Death Syndromes
Ary L. Goldberger MD, FACC, Zachary D. Goldberger MD, FACC, FAHA, FHRS and Alexei Shvilkin MD, PhD
Goldberger’s Clinical Electrocardiography, 21, 236-245


Ngưng tim xảy ra khi tim ngừng co bóp hiệu quả và ngừng bơm máu.

Ngưng tim đột ngột không phải là một bệnh đơn lẻ mà là một hội chứng phức tạp có nhiều biểu hiện điện tâm đồ (ECG) và nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, ngưng tim đột ngột không đồng nghĩa với nhồi máu cơ tim cấp (MI; “cơn đau tim”). Tuy nhiên, MI – cấp tính, gần đây, hoặc trước đó – là một nguyên nhân quan trọng gây ngưng tim đột ngột.

Thuật ngữ liên quan chặt chẽ tử vong tim đột ngột áp dụng chung hơn để mô tả một trong hai tình huống sau:

  1. Một người (có hoặc không có triệu chứng báo trước) bị ngưng tim đột ngột, không được hồi sức, và tử vong trong vòng vài phút.
  2. Một người tử vong trong vòng một giờ hoặc hơn kể từ khi xuất hiện các triệu chứng cấp tính, đặc biệt là đau ngực, khó thở, choáng váng, hoặc ngất thực sự.

Do đó, tất cả các đối tượng bị tử vong tim đột ngột đều đã trải qua ngưng tim. Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng bị ngưng tim đều tử vong nhờ vào nỗ lực hồi sức kịp thời.

KHÍA CẠNH LÂM SÀNG CỦA NGƯNG TIM

Bệnh nhân ngưng tim mất ý thức trong vòng vài giây. Tổn thương não không hồi phục thường xảy ra trong vòng 4 phút, đôi khi sớm hơn. Hơn nữa, ngay sau khi tim ngừng bơm, hô hấp tự nhiên cũng ngừng (ngưng tim phổi). Trong một số trường hợp, hô hấp ngừng trước (ngưng hô hấp nguyên phát) và hoạt động tim ngừng ngay sau đó.

ĐIỂM THEN CHỐT

Không đáp ứng, thở hổn hển hoặc không thở, và không có mạch trung tâm (ví dụ: mạch cảnh hoặc mạch đùi) là các dấu hiệu chẩn đoán chính của ngưng tim.

Trong khi ngưng tim, không thể nghe thấy tiếng tim và không thể đo được huyết áp. Bệnh nhân trở nên tím tái (xanh xám) do thiếu máu có oxy lưu thông, tay chân trở nên lạnh. Nếu não bị thiếu oxy nghiêm trọng, đồng tử cố định và giãn rộng, và có thể xảy ra tử vong não. Có thể xảy ra cơn co giật.

Khi phát hiện ngưng tim, phải bắt đầu ngay nỗ lực hồi sức tim phổi (CPR) (Hộp 21.1).

Chi tiết cụ thể về CPR và hỗ trợ tim mạch nâng cao bao gồm đặt nội khí quản, liều lượng thuốc, sử dụng máy khử rung tự động bên ngoài (AED) và máy khử rung tiêu chuẩn, cùng các vấn đề khác liên quan đến chẩn đoán và điều trị dứt điểm nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này. Các khía cạnh chi tiết của CPR được thảo luận trên trang web của các hiệp hội chuyên môn lớn, bao gồm Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và Đại học Tim mạch Hoa Kỳ (ACC).

CÁC MẪU HÌNH ECG CƠ BẢN TRONG NGƯNG TIM

Ba mẫu hình ECG cơ bản được thấy trong ngưng tim đã được đề cập trong các chương trước (Chương 13Chương 16; Hộp 21.2). Các mẫu hình này được xem xét ngắn gọn trong các phần sau, với trọng tâm đặt vào ý nghĩa lâm sàng của chúng (Hình 21.1–21.6).

HỘP 21.1 Hướng dẫn Hồi sức Tim Phổi (CPR)

  1. Gọi 911 [dịch vụ cấp cứu].
  2. Bắt đầu ép tim bằng tay ở vùng xương ức, với tần số 100 đến 120 lần ép mỗi phút.
  3. Thực hiện ép tim bằng tay ở độ sâu ít nhất 2 inch (5 cm) đối với người trưởng thành trung bình.
  4. Tất cả nhân viên cứu hộ không chuyên nên bắt đầu CPR cho đến khi các chuyên gia được đào tạo đến hoặc nạn nhân có phản ứng.
  5. Nhân viên cứu hộ được đào tạo có thể cân nhắc thông khí ngoài ép tim: 10 hơi thở mỗi phút (1 hơi thở mỗi 6 giây).

HỘP 21.2 Ba Mẫu Hình ECG Cơ Bản trong Ngưng Tim

  • Loạn nhịp nhanh thất, bao gồm rung thất (VF) hoặc nhịp nhanh thất không có mạch kéo dài
  • Nhịp chậm-vô tâm thu (vô tâm thu hoặc nhịp chậm với tần số cực kỳ chậm)
  • Hoạt động điện vô mạch (PEA)

Loạn nhịp nhanh thất (Rung thất hoặc Nhịp nhanh thất không có mạch)

Với rung thất (VF), tâm thất không co bóp mà thay vào đó co giật nhanh và bất thường theo cách hoàn toàn không hiệu quả. Không có cung lượng tim, và bệnh nhân mất ý thức trong vòng vài giây. Mẫu hình ECG đặc trưng, với các sóng dao động nhanh và thay đổi (“rung”), được minh họa trong Hình 21.1.

VF có thể xuất hiện tự phát trong các môi trường nguy cơ cao (xem Chương 16) nhưng thường được báo trước bởi nhịp nhanh thất đơn dạng hoặc đa dạng (VT) và đôi khi bởi các nhát bóp thất sớm thường xuyên. Hình 21.2 cho thấy một đợt VT thoái hóa thành VF trong khi ngưng tim.

Hình 21.1 Rung thất gây ngưng tim.

Hình 21.2 Nhịp nhanh thất (VT) và rung thất (VF) được ghi lại trong khi ngưng tim. Loại nhịp nhanh thất dạng sóng sin nhanh được thấy ở đây đã được gọi là cuồng thất.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ