Loãng xương (Osteoporosis) là bệnh lí do rối loạn chuyển hoá của bộ xương, đặc trưng bởi tình trạng giảm mật độ chất khoáng của xương và tổn thương giáng hóa trong cấu trúc của tổ chức xương, hậu quả là làm giảm sức mạch của xương và xương trở nên dễ gãy.
Loãng xương là một bệnh lí thường gặp, đặc biệt ở phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi. Loãng xương với hậu quả gãy xương gây đau cấp và mạn tính, thay đổi hình thể, có nguy cơ tàn phế cao, thậm chí tử vong, là một gánh nặng lớn cho người bệnh, gia đình và xã hội.
Phân loại:
- Loãng xương nguyên phát (chiếm đa số trong số bệnh nhân bị loãng xương). Bao gồm: loãng xương sau mãn kinh (ở phụ nữ sau mãn kinh, loãng xương týp I) và loãng xương người già (cả nam và nữ giới, loãng xương týp II).
- Loãng xương thứ phát: do dùng một số thuốc (thường gặp nhất là corticosteroid) hoặc do một số bệnh lí,…
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
Loãng xương xuất hiện do mất cân bằng giữa quá trình tạo xương và hủy xương, trong đó quá trình mất xương diễn ra nhanh hơn quá trình tân tạo xương, hậu quả là khối lượng xương giảm dần, cùng với những thay đổi thoái giáng trong mô xương làm cho xương trở nên dễ gãy. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm:
- Tuổi cao, giới (phụ nữ có nguy cơ cao hơn nam giới)
- Tiền sử gia đình có cha, mẹ bị loãng xương hoặc gãy xương
- Thể trạng cơ thể nhỏ bé (BMI < 19), suy dinh dưỡng, kém phát triên thể chất từ khi còn nhò, các hội chứng kém hấp thu.
- Ít hoạt động thể lực, bất động lâu ngày do bệnh tật hoặc nghề nghiệp
- Có thói quen lạm dụng rượu, bia, cà phê, thuốc lá,…
- Thiểu năng sinh dục nam và nữ, mãn kinh sớm; hội chứng hoặc bệnh Cushing
- Sử dụng dài hạn một số thuốc: corticosteroid, thuốc chống động kinh, thuốc tiểu đường, kháng đông (heparin), thuốc chống ung thư, PPL
- Các bệnh viêm mạn tính: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus
Mắc một số bệnh lí khác có nguy cơ mất xương cao: cường giáp, cường cận giáp trạng, bệnh mạn tính đường tiêu hoá, suy thận mạn, bệnh lí huyết học.
Chẩn đoán
Các công việc chẩn đoán
Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng
- Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng nhằm ghi nhận các triệu chứng (nếu có), đánh giá các yếu tố nguy cơ, các bệnh lí phối hợp.
- Thăm khám lâm sàng cần bao gồm đo chiều cao, cân nặng, tính chỉ khối số khối cơ thề.
- Loãng xương là bệnh diễn biến âm thầm, đa số không có triệu chứng lâm sàng đặc trưng trừ khi có gãy xương.
- Các triệu chứng nếu có thường chỉ biểu hiện khi đã có biến chứng, hoặc là biểu hiện của bệnh lí gây loãng xương thứ phát:
+ Đau lưng cấp và mạn tính (thường do gãy lún đốt sống)
+ Biến dạng cột sống: gù, vẹo cột sống, giảm chiều cao… do thân các đốt sống bị gãy
+ Đau ngực, khó thở, chậm tiêu,… do ảnh hường đến lồng ngực và thân các đốt sống
+ Gãy xương: các vị trí thường gặp là gãy đầu dưới xương quay, gãy cổ xương đùi, gãy các đốt sống, thường xuất hiện sau chấn thương rất nhẹ, tai nạn sinh hoạt, thậm chí không rõ chấn thương.
Chỉ định cận lâm sàng
– Các thăm dò thường quy, đặc hiệu:
+ Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa cơ bản: công thức máu, máu lắng, chức năng gan, thận, ion đồ và canxi máu, CRP, tổng phân tích nước tiểu.
+ Đo mật độ xương (BMD) bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA, DXA) tại vùng đầu trên xương đùi và cột sống thắt lựng.
+ Chụp X-quang: phổi, cột sống ngực, thắt lưng; các vị trí khác khi nghi ngờ có gãy xương.
– Các xét nghiệm, thăm dò khác: có thể được chỉ định tùy thuộc tình trạng lâm sàng, nhằm xác định nguyên nhân gây loãng xương thứ phát, để chẩn đoán phân biệt, hoặc đánh giá bệnh lí phối hợp. Chẳng hạn:
+ Phosphatase kiềm, albumin, hormone giáp (FT3, FT4), TSH, PTH, 25-OH-vitamin D huyết thanh, phospho máu, cortisol máu, điện di đạm, tủy đồ, hormone sinh dục,…
+ Chẩn đoán hình ảnh: xạ hình xương, siêu âm, CT scan, hoặc MRI
+ Định lượng các marker chu chuyển xương (NTX, CTX, PINP,…), hiện tại chưa có khuyến cáo sử dụng thường quy trong thực hành lâm sàng.
+ Một số thăm dò cận lâm sàng khác nếu cần.
Chẩn đoán xác định
– Chẩn đoán dựa vào đo mật độ xương: tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1994, đo mật độ xương tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi theo phương pháp DEXA:
+ Xương bình thường: T score ≥ -1 + Thiếu xương (Osteopenia): T score < -1 và > -2,5 + Loãng xương (Osteoporosis): T score ≤ -2,5
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ