1. Đại cương
1.1. Mở đầu
Heparin xuất hiện vào thập niên 1930, đến nay nó được sử dụng phổ biến trong lâm sàng với nhiều chỉ định như: phòng ngừa huyết khối, lọc máu, điều trị các bệnh do thuyên tắc huyết khối. Khoảng 1/3 số bệnh nhân nhập viện có sử dụng heparin hàng năm. Tuy nhiên, heparin có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm trọng. Một trong những tác dụng phụ nặng nổi tiếng của heparin là giảm tiểu cầu.
Giảm tiểu cầu do heparin – HIT (heparin-induced thrombocytopenia) là một biến chứng đe dọa tính mạng khi điều trị bằng heparin. Có 2 loại HIT: HIT týp I không do cơ chế miễn dịch và HIT týp II do cơ chế miễn dịch. Trong thực hành y khoa, khi nói đến HIT, chúng ta đề cập đến HIT týp II. Việc điều trị HIT cần ngưng ngay heparin và sử dụng các thuốc kháng đông thay thế.
1.2. Định nghĩa
Giảm tiểu cầu do heparin – HIT (heparin-induced thrombocytopenia) là một tình trạng rối loạn đông máu sau sử dụng heparin, biểu hiện lâm sàng là số lượng tiểu cầu giảm (< 150G/l) hoặc giảm nhiều hơn hoặc bằng 50% so với số lượng tiểu cầu khi chưa dùng heparin, có thể có hoặc không các biến chứng huyết khối.
Chúng ta lưu ý một số vấn đề: thời điểm xuất hiện HIT, mức độ lâm sàng là mức độ giảm số lượng tiểu cầu, loại heparin sử dụng và nguy cơ huyết khối.
– Thời điểm bắt đầu giảm tiểu cầu sau sử dụng heparin thay đổi theo tiền sử sử dụng heparin. Khoảng 5 đến 14 ngày là điển hình ở các bệnh nhân chưa từng sử dụng hoặc đã sử dụng heparin cách hơn 100 ngày, trong khi giảm tiểu cầu trong vòng vài giờ xảy ra ở các bệnh nhân có tiền sử dùng heparin gần đây và nồng độ kháng thể kháng PF4-heparin (Platelet 4/heparin) lưu hành có thể phát hiện được.
– Số lượng tiểu cầu hiếm khi giảm dưới 10 G/l, ít khi xuất huyết và điển hình hồi phục trong 4 đến 14 ngày sau khi ngừng heparin, mặc dù sự hồi phục có thể lâu hơn ở một số bệnh nhân.
– Ở các bệnh nhân HIT, nguy cơ huyết khối cao gấp 30 lần trong dân số. Các biến chứng huyết khối xuất hiện ở khoảng 20 đến 50% bệnh nhân. Nguy cơ huyết khối vẫn còn cao trong vài ngày đến vài tuần sau khi ngừng heparin, thậm chí khi số lượng tiểu cầu đã về bình thường. Huyết khối xảy ra ở cả tĩnh mạch và động mạch. Các biểu hiện không điển hình bao gồm hoại tử da do heparin, hoại thư tĩnh mạch chi và phản ứng dạng phản vệ sau bolus tĩnh mạch heparin.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ