Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ
PHẦN IV CÁCH TIẾP CẬN TOÀN CẦU VỀ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG
CHƯƠNG 24. Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang Ở Người Nam Á
OUMA PILLAY, KIMMEE KHAN, VÀ KAMAL OJHA
Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS) là tình trạng bệnh lý nội tiết thường gặp nhất và ảnh hưởng đến 4% đến 25% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán được sử dụng. Các đặc điểm của PCOS bao gồm thiểu kinh (oligomenorrhea), vô kinh/không rụng trứng (amenorrhea/anovulation), các dấu hiệu cường androgen (hyperandrogenism – HA) như mụn trứng cá và chứng rậm lông (hirsutism), cùng với các thay đổi trên buồng trứng có thể quan sát được qua siêu âm. Tiêu chuẩn Rotterdam năm 2003 là tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nhất cho các mục đích lâm sàng và nghiên cứu. PCOS có tỷ lệ hiện mắc béo phì ước tính là 50%, cao hơn so với tỷ lệ trong quần thể chung. Hội chứng này cũng bao gồm một thành phần chuyển hóa, chủ yếu là tình trạng kháng insulin (insulin resistance – IR), có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh trong tương lai.
Nam Á là một thuật ngữ tập hợp dùng để chỉ các quần thể có nguồn gốc từ Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh và Nepal. Những quốc gia này có mật độ dân số đông đúc và, giống như nhiều khu vực khác trên thế giới, có những người mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Những người có nguồn gốc từ khu vực Nam Á chiếm 20% dân số toàn cầu. Về mặt thực tế, có 1,6 triệu cư dân Hoa Kỳ là người Nam Á (chiếm 0,7%) vào năm 2000. Tương tự, 1 triệu cư dân Canada là người Nam Á vào năm 2011, và 1 triệu người Nam Á khác sinh sống tại Úc (chiếm 1,3%). Tại Vương quốc Anh, 5,7% cư dân tự coi mình là người gốc Á hoặc người Anh gốc Á. Điều này khiến người Nam Á trở thành nhóm thiểu số sắc tộc lớn nhất tại Vương quốc Anh vào năm 2001, cấu thành 4% dân số của quốc gia này. Xét đến số lượng lớn người mắc PCOS trên toàn cầu, việc hiểu sâu hơn về tình trạng này và những tác động của nó đối với bệnh nhân, cũng như việc điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp với nhu cầu của người bệnh, là điều vô cùng cần thiết.
Các khu vực khác nhau trên thế giới thể hiện những biến thể về mặt sắc tộc trong cách biểu hiện của PCOS (Hình 24.1); tuy nhiên, phần lớn những kiến thức đã biết về PCOS đều dựa trên các bằng chứng thu thập được từ những nghiên cứu thực hiện chủ yếu trên phụ nữ da trắng. Tại Vương quốc Anh, trong một nghiên cứu dựa trên cộng đồng, phụ nữ da trắng được phát hiện có tỷ lệ hiện mắc buồng trứng đa nang (polycystic ovaries – PCO) thấp hơn (22%) so với những phụ nữ Nam Á đồng trang lứa (52%). Một nghiên cứu dựa trên cộng đồng tại Sri Lanka đã xác định tỷ lệ hiện mắc PCOS là 6,3%. Ngoài ra, người Nam Á có tỷ lệ hiện mắc tình trạng kháng insulin (IR) và đái tháo đường týp 2 (type 2 diabetes mellitus – DM) cao hơn. Điều này có thể làm trầm trọng thêm nguy cơ mắc bệnh trong tương lai ở những bệnh nhân đồng thời mắc PCOS (Bảng 24.1).

| Nội dung Hình 24.1 |
|---|
| Hình 24.1 Các Biểu Hiện Không Đồng Nhất Của Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang (PCOS) Quan Sát Được Ở Phụ Nữ Nam Á Mắc PCOS (Kiểu hình, Khám thực thể và Các rối loạn trong Thông số Chuyển hóa).
Kiểu hình (Phenotypes) – Thiểu kinh/vô kinh (Oligo/amenorrhea) – Cường androgen (Hyperandrogenism) – Vô sinh (Infertility) Siêu âm buồng trứng (Ovarian ultrasound) – Hình ảnh buồng trứng đa nang (PCO) theo tiêu chuẩn Rotterdam Đặc điểm chuyển hóa (Metabolic features) – Béo phì toàn thân (Generalized obesity) – Béo phì trung tâm (Central obesity) – Bệnh gai đen (Acanthosis nigricans) – Tăng huyết áp (Hypertension) Thông số chuyển hóa (Metabolic parameters) |
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ