Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hội chứng Buồng trứng Đa nang. CHƯƠNG 5. SỰ TƯƠNG TÁC CỦA ADIPOCYTOKINE VỚI HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG

45 phút đọc

Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ


CHƯƠNG 5. SỰ TƯƠNG TÁC CỦA ADIPOCYTOKINE VỚI HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG

Mukhtiar Baig, Tauseef Ahmad, Và Saba Tariq


Giới Thiệu

Mô mỡ (adipose tissues) đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì cân bằng nội môi (homeostasis) của cơ thể. Các chất có hoạt tính sinh học được giải phóng từ mô mỡ điều hòa quá trình chuyển hóa glucose và lipid, cũng như năng lượng và hoạt động của hệ miễn dịch. Tình trạng viêm mô mỡ kích hoạt các con đường tín hiệu đã được chứng minh là làm phá vỡ sự cân bằng nội môi chuyển hóa. Hơn nữa, các con đường rối loạn điều hòa của các chất có hoạt tính sinh học gây ra những bất thường về chuyển hóa và các hậu quả mạn tính, đặc biệt là ở những người béo phì.

Adipokine là các chất có hoạt tính sinh học được tạo ra duy nhất bởi mô mỡ, trong khi adipocytokine được sản xuất bởi nhiều loại tế bào khác nhau, bao gồm cả tế bào mỡ. Các cơ quan khác sản xuất adipocytokine bao gồm buồng trứng, nhau thai, gan, thận, cơ, tim, tủy xương và các tế bào đơn nhân ngoại vi. Tuy nhiên, để tránh nhầm lẫn, thuật ngữ “adipokine” sẽ được sử dụng để chỉ các phân tử có hoạt tính sinh học này xuyên suốt bài tổng quan này.

Adipokine có thể có đặc tính tiền viêm (pro-inflammatory) hoặc kháng viêm (anti-inflammatory). Nghiên cứu cho thấy béo phì làm tăng các adipokine tiền viêm và làm giảm các adipokine kháng viêm, từ đó duy trì một phản ứng viêm mức độ thấp trong một thời gian dài. Một số lượng đáng kể các nghiên cứu trên toàn thế giới đã chỉ ra rằng adipokine đóng một vai trò trong cơ chế bệnh sinh (pathogenesis) của các bệnh lý ảnh hưởng đến gần như toàn bộ các hệ cơ quan trong cơ thể. Thêm vào đó, nghiên cứu đã xác lập rằng adipokine có vai trò tối quan trọng trong căn nguyên (etiology) của bệnh béo phì và các rối loạn liên quan đến béo phì. Các đặc điểm đa dạng của adipokine được trình bày trong Bảng 5.1Hình 5.1.

Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS) là bệnh lý nội tiết-chuyển hóa phổ biến nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Những bệnh nhân mắc PCOS có nhiều nguy cơ phát triển các vấn đề chuyển hóa như đái tháo đường týp 2 (type 2 diabetes mellitus – T2DM), đề kháng insulin (insulin resistance – IR), và rối loạn chức năng mô mỡ. Bệnh nhân mắc PCOS có tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 cao gấp 10 lần so với dân số chung, và tình trạng không dung nạp glucose (glucose intolerance) cao hơn từ 30% đến 50% ở những bệnh nhân PCOS béo phì so với người bình thường. Đề kháng insulin ảnh hưởng đến khoảng 10% đến 25% dân số chung, trong khi những cá thể mắc PCOS có nguy cơ bị đề kháng insulin cao gấp hai đến ba lần. Hơn nữa, bệnh nhân mắc PCOS có tỷ lệ hiện mắc béo phì cao hơn so với những người không mắc bệnh. Các triệu chứng của PCOS trở nên tồi tệ hơn một cách đáng kể ở những người mắc đồng thời cả PCOS và béo phì, nhưng cơ chế chính xác của PCOS vẫn chưa được biết rõ. Nhiều nghiên cứu đã xác lập rằng những bệnh nhân PCOS béo phì thường xuyên gặp phải tình trạng rối loạn chức năng mô mỡ và hệ quả là làm thay đổi nồng độ adipokine, cho thấy adipokine có đóng một vai trò ở bệnh nhân PCOS.

Một giả thuyết cho rằng sự biến thiên nồng độ adipokine ở bệnh nhân PCOS là do béo phì thúc đẩy chứ không phải do bản thân bệnh lý PCOS. Điều này được minh chứng bằng việc nồng độ adipokine tỷ lệ thuận với chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI), và bệnh nhân PCOS thường có chỉ số BMI cao hơn. Hơn nữa, một phân tích gộp (meta-analysis – MA) đã phát hiện ra rằng phụ nữ mắc PCOS có tỷ lệ hiện mắc (prevalence) tình trạng thừa cân béo phì và béo phì trung tâm cao hơn. Một phân tích gộp khác đã bao gồm dữ liệu trên những bệnh nhân PCOS không béo phì nhằm kiểm chứng quan điểm này về ảnh hưởng của béo phì lên nồng độ adipokine và để đánh giá mối liên hệ giữa PCOS và nồng độ adipokine. Tuy nhiên, các phát hiện từ phân tích gộp đã chứng minh có sự thay đổi nồng độ adipokine ở những cá thể mắc PCOS không béo phì; do đó các kết quả này bác bỏ giả thuyết cho rằng béo phì thay vì PCOS gây ra sự thay đổi nồng độ adipokine ở bệnh nhân PCOS. Điều này ngụ ý rằng adipokine có thể đóng một vai trò ở bệnh nhân PCOS bất kể cân nặng của họ là bao nhiêu; tuy nhiên, cơ chế chính xác mà qua đó adipokine đóng góp vào sự phát triển của PCOS vẫn chưa được biết rõ.

Việc xác định sự biến thiên nồng độ adipokine tuần hoàn ở bệnh nhân PCOS gần đây ngày càng trở nên phổ biến. Người ta cũng đưa ra giả thuyết rằng những adipokine này có thể đóng một vai trò trong căn nguyên của PCOS. Vaspin, chemerin, resistin, leptin, omentin, adiponectin, và visfatin đều đã được chứng minh là có liên quan đến PCOS trong các nghiên cứu trước đây sử dụng phương pháp tổng quan hệ thống và phân tích gộp (Bảng 5.2).

Tuy nhiên, y văn hiện tại vẫn còn thưa thớt và chưa hoàn chỉnh với những kết quả mâu thuẫn nhau. Các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng tìm hiểu xem mỗi adipokine đóng vai trò gì trong PCOS. Do đó, ở thời điểm hiện tại, vai trò của adipokine trong PCOS là một chủ đề đang được tranh luận sôi nổi. Những phát hiện về sự tương tác giữa adipokine và PCOS có thể giúp các bác sĩ lâm sàng chẩn đoán và quản lý PCOS cũng như các vấn đề đi kèm một cách tốt hơn. Bài tổng quan hiện tại sẽ bao gồm các bằng chứng sẵn có về sự tương tác giữa adipokine và PCOS.

Hình 5.1 Biểu Diễn Đồ Họa Về Tác Động Của Các Adipocytokine Khác Nhau Trong Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang (PCOS). FSH, Hormone kích thích nang trứng. Adiponectin: Quá trình oxy hóa axit béo, độ nhạy insulin, chuyển hóa glucose. Chemerin: Điều hòa lượng thức ăn ăn vào, chuyển hóa lipid và glucose. Omentin: Đề kháng insulin. Apelin: Gia tăng bài tiết estradiol và progesterone. Visfatin: Đề kháng insulin, chuyển hóa glucose. Resistin: Đề kháng insulin, chuyển hóa glucose. Leptin: Ức chế sự bộc lộ các enzyme p450 do FSH gây ra.

Bảng 5.1 Vị Trí Sản Xuất Adipokine Và Mối Liên Quan Với Tình Trạng Viêm, Chức Năng Sinh Sản Và Chức Năng Chuyển Hóa

Adipokine Vị trí sản xuất Mối liên quan với tình trạng viêm Mối liên quan với chức năng sinh sản Mối liên quan với chức năng chuyển hóa
Adiponectin Tế bào mỡ (adipocytes), nhau thai, nguyên bào xương (osteoblasts), tế bào cơ tim (cardiomyocytes) Kháng viêm Khởi phát và điều hòa tuổi dậy thì Quá trình oxy hóa axit béo, độ nhạy insulin, chuyển hóa glucose
Leptin Mô mỡ, nhau thai Điều hòa đáp ứng miễn dịch Điều hòa bài tiết gonadotropin Điều hòa lượng thức ăn ăn vào, chuyển hóa lipid và glucose
Resistin Tế bào đơn nhân máu ngoại vi, nhau thai Điều hòa đáp ứng viêm Chức năng buồng trứng và PCOS Đề kháng insulin
Visfatin Mô mỡ, gan, cơ, thận, tim, tủy xương, nhau thai Điều hòa đáp ứng viêm Chức năng buồng trứng và PCOS Đề kháng insulin, chuyển hóa glucose
Apelin Não, tử cung, buồng trứng, phổi, các động mạch nhỏ của nội mạc mạch máu Điều hòa đáp ứng viêm Chức năng buồng trứng và PCOS Gia tăng bài tiết estradiol và progesterone
Omentin Các mô mỡ tạng (visceral depots of adipose tissues) Tăng điều hòa (upregulated) bởi các tình trạng tiền viêm Chức năng buồng trứng và PCOS Đề kháng insulin, chuyển hóa glucose
Chemerin Các mô mỡ thụ thể gắn G-protein (G-protein coupled receptor) Yếu tố điều hòa âm tính đối với sự sinh tổng hợp steroid buồng trứng (ovarian steroidogenesis) Chức năng buồng trứng và PCOS Ức chế sự bộc lộ các enzyme p450 do FSH gây ra

FSH, Hormone kích thích nang trứng (Follicle-stimulating hormone); PCOS, Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome).

Bảng 5.2 Một Số Phát Hiện Từ Phân Tích Gộp Về Vai Trò Của Adipokine Trong PCOS

Nghiên cứu Số lượng Nghiên cứu Số lượng Đối tượng (Bệnh/Chứng) Các phát hiện trong PCOS Kết luận
Lin và cộng sự, 2021 71 5015 (2495/2520) Adiponectin huyết thanh = Thấp hơn; Chemerin và resistin huyết thanh = Cao hơn; Apelin và omentin = Không thay đổi Bất kể mức độ béo phì, sự rối loạn điều hòa nồng độ adipokine có thể đóng vai trò then chốt trong sự khởi phát và tiến triển của PCOS.
Mehrabani và cộng sự, 2021 77 8239 Vaspin, chemerin, và resistin huyết thanh = Cao hơn Nồng độ vaspin, chemerin, và resistin huyết thanh có thể được sử dụng để dự đoán sự khởi phát của PCOS.
Mansoori và cộng sự, 2022 22 2256 (1191/1065) Chemerin huyết thanh, dịch nang trứng (FF) và sự bộc lộ = Cao hơn Chemerin có thể liên quan độc lập đến cả PCOS và BMI.
Wang và cộng sự, 2022 8 897 (524/373) Chemerin = Cao hơn Chemerin có thể đóng một vai trò trong căn nguyên của PCOS.
Raeisi và cộng sự, 2021; Seth và cộng sự, 2021 38; 35 4328 (2424/1904); 3782 (2015/1767) Nồng độ apelin và mRNA huyết thanh = Không thay đổi; Chemerin và resistin huyết thanh = Cao hơn; Leptin huyết thanh = Không thay đổi (trong các nghiên cứu chất lượng cao) hoặc Cao hơn (trong các nghiên cứu chất lượng thấp) Resistin huyết thanh có thể đóng một vai trò trong cơ chế bệnh sinh của PCOS; Trong các nghiên cứu chất lượng cao, leptin huyết thanh không liên quan đến nguy cơ mắc PCOS. Cần thêm nghiên cứu.
Zheng và cộng sự, 2017 19 1889 (991/898) Leptin huyết thanh = Cao hơn Nồng độ leptin cao hơn có liên quan đến đề kháng insulin, rối loạn chuyển hóa, vô sinh, và nguy cơ bệnh tim mạch trong PCOS.
Tang và cộng sự, 2017 10 1264 (733/531) Omentin-1 huyết thanh = Thấp hơn Omentin-1 huyết thanh có thể liên quan đến cơ chế bệnh sinh của PCOS.
Li và cộng sự, 2014 38 3598 (1944/1654) Adiponectin huyết thanh = Thấp hơn Nồng độ adiponectin trong máu có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của PCOS.
Sun và cộng sự, 2015 16 1341 (695/646) Visfatin huyết thanh = Cao hơn Visfatin huyết thanh có thể đóng vai trò như một dấu ấn sinh học (biomarker) cho PCOS.

BMI, Chỉ số khối cơ thể (Body mass index); IR, Đề kháng insulin (insulin resistance); PCOS, Hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome).

Adiponectin

Adiponectin là một protein có trọng lượng phân tử 30 kDa được tiết ra chủ yếu qua các tế bào mỡ (adipocytes), nhưng ở một mức độ nào đó, nó cũng được sản xuất bởi nguyên bào xương, nhau thai và tế bào cơ tim. Nó có đặc tính kháng viêm, chống xơ vữa động mạch (anti-atherogenic) và làm tăng độ nhạy insulin (insulin-sensitizing). Béo phì là một đặc điểm của PCOS có thể ảnh hưởng đến độ nhạy adiponectin bằng cách làm thay đổi sự bộc lộ của các thụ thể adiponectin. Điều này gây ra đề kháng insulin, làm trầm trọng thêm tình trạng tăng insulin máu (hyperinsulinemia) ở phụ nữ mắc PCOS. Đồng thời, một số tính đa hình của gen adiponectin (adiponectin gene polymorphisms) cũng phổ biến hơn ở bệnh nhân PCOS.

Nồng độ adiponectin thấp chủ yếu liên quan đến sự hiện diện hoặc sự tương tác giữa PCOS và béo phì ở những phụ nữ béo phì mắc PCOS. Các chỉ số về đề kháng insulin có liên quan đến nồng độ adiponectin, điều này đã được củng cố thêm bởi một phân tích gộp. Trái lại, một số nghiên cứu lại báo cáo không có mối liên hệ nào giữa nồng độ adiponectin huyết thanh và đề kháng insulin. Những phát hiện mâu thuẫn này rất có thể là do sự biến dị di truyền về tính nhạy cảm với béo phì và đề kháng insulin ở các quần thể khác nhau.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ