Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
Chương 12. Các biến chứng của Phẫu thuật
Complications of surgery
Clive R.G. Quick, MBBS(London), FDS, FRCS(England), MS(London), MA(Cantab); Suzanne M. Biers, BSc, MBBS, MD, FRCS; Tan H.A. Arulampalam, MBBS, MD, FRCS
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 12, 194-210
Giới thiệu
Bất kỳ cuộc mổ (operation), ca nhập viện vì chấn thương nặng (major trauma) hay bất kỳ ca nhập viện ngoại khoa (surgical admission) nào cũng có thể đi kèm với các biến chứng, nhiều trong số đó có khả năng phòng ngừa được. Một số biến chứng vốn dĩ cố hữu trong tình trạng bệnh lý đang được điều trị (ví dụ: huyết khối tĩnh mạch sâu [DVT] sau gãy xương chi dưới) hoặc phát sinh từ bệnh lý đồng mắc (comorbid) (từ trước) như thiếu máu cơ tim, trong khi những biến chứng khác có thể do sai sót của con người hoặc lỗi hệ thống. Giao tiếp kém giữa các nhân viên bệnh viện là nguyên nhân thường gặp của các biến chứng có thể tránh được, bao gồm việc ghi chép hồ sơ không đầy đủ hoặc không chính xác, không ghi nhận tình trạng dị ứng và bàn giao người bệnh không thỏa đáng giữa các đồng nghiệp chịu trách nhiệm về người bệnh.
Phần lớn các biến chứng có thể được ngăn ngừa hoặc giảm thiểu bằng cách lường trước những gì có thể xảy ra, bằng cách thực hiện các biện pháp dự phòng cụ thể, bằng cách chú ý đến chi tiết và bằng cách nhận biết sớm và điều trị các vấnK đề ngay khi chúng phát triển. Ngoài ra, hầu hết các bệnh viện hiện nay đều có các cơ chế tiêu chuẩn được thiết kế để giảm thiểu lỗi hệ thống như Bảng kiểm An toàn Phẫu thuật của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), hiện được hoàn thành cho tất cả các cuộc mổ và có sự tham gia của tất cả các thành viên trong kíp mổ.
Với các biến chứng có khả năng nghiêm trọng (ví dụ: xì rò miệng nối ruột), việc chẩn đoán sớm và mổ lại có thể là yếu tố then chốt, vì sự chậm trễ thường dẫn đến nhiễm trùng ‘hòn tuyết lăn’ (snowballing) thảm khốc và suy đa cơ quan. Một khi hai hoặc nhiều hệ thống cơ thể bị suy giảm chức năng, tỷ lệ sống sót chỉ còn khoảng 50%. Ví dụ, nếu hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) và suy thận cấp là biến chứng của một cuộc mổ vì vàng da tắc mật ở người bệnh bị suy giảm chức năng gan, thì tỷ lệ sống sót là rất thấp.
Trong phẫu thuật, các biến chứng có thể được xem xét là những biến chứng có thể xảy ra với bất kỳ cuộc mổ nào hoặc các biến chứng đặc hiệu của từng loại phẫu thuật cụ thể. Cả hai nhóm đều có thể được phân chia nhỏ thành tức thì (trong khi mổ hoặc 24 giờ đầu), sớm sau mổ (trong tuần đầu sau mổ), muộn sau mổ (đến 30 ngày sau mổ) và lâu dài.
Các biến chứng phẫu thuật được chia thành năm loại chính được liệt kê trong Hộp 12.1. Các biến chứng ‘nội khoa’ đồng mắc được thảo luận trong Chương 8. Các biến chứng của các phẫu thuật cụ thể được thảo luận trong các Chương 18-50, nếu phù hợp.
Biến chứng của gây mê
Các biến chứng chính của gây mê được tóm tắt trong Hộp 12.2.
Các biến chứng chung của phẫu thuật
Các biến chứng tiềm ẩn chính của bất kỳ cuộc mổ nào là chấn thương vô ý cho người bệnh trong phòng mổ, chảy máu, tổn thương phẫu thuật đối với các cấu trúc liên quan, phẫu thuật không đầy đủ, nhiễm khuẩn vết mổ (surgical site infection) và các vấn đề về liền vết thương.
Hộp 12.1 Các loại biến chứng phẫu thuật chính
|
Chấn thương vô ý trong phòng mổ
Người bệnh có nguy cơ bị chấn thương trong quá trình vận chuyển hoặc chuyển tư thế trong phòng mổ, đặc biệt là khi đang được gây mê toàn thân. Nhân viên tham gia xử lý người bệnh cũng có nguy cơ bị chấn thương, ví dụ, chấn thương lưng. Bảng kiểm An toàn Phẫu thuật của WHO nhắc nhở kíp mổ nhận diện sự hiện diện của các khớp nhân tạo, các thiết bị như máy tạo nhịp hoặc các vật liệu kim loại được cấy ghép từ các cuộc mổ trước đó, bao gồm bất kỳ mối lo ngại nào khác về việc chuyển tư thế và cảnh báo về sự cần thiết phải cảnh giác cao độ trong quá trình định vị tư thế người bệnh cũng như trong suốt quá trình thực hiện thủ thuật.
Các nguyên nhân phổ biến nhất của chấn thương trong phòng mổ là:
- Tổn thương do ngã từ xe đẩy hoặc từ bàn mổ trong quá trình định vị tư thế
- Tổn thương xương và khớp bị bệnh hoặc loãng xương do thao tác hoặc định vị tư thế. Chúng bao gồm trật khớp đội-trục do viêm khớp dạng thấp và trật khớp háng giả hoặc khớp nhân tạo khác
- Liệt dây thần kinh trụ, thần kinh mác chung và các dây thần kinh khác do chèn ép
- Bỏng điện do tấm điện cực dao điện bị ướt hoặc tiếp xúc kém hoặc sử dụng sai đầu dò dao điện
- Chèn ép quá mức lên bắp chân gây ra huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS)
- Chèn ép quá mức hoặc kéo dài ở gót chân gây loét do tỳ đè
- Gián đoạn máy tạo nhịp tim do thiết bị dao điện – được giảm thiểu bằng cách sử dụng dao điện lưỡng cực (bipolar diathermy) chọn lọc bất cứ khi nào có thể. Kiểm tra máy tạo nhịp được thực hiện trước và sau thủ thuật nếu cần, nhưng các máy tạo nhịp hiện đại có khả năng chống nhiễu điện tốt hơn nhiều.
Hộp 12.2 Các biến chứng của gây mê
Gây tê tại chỗ
Gây tê tủy sống, ngoài màng cứng và khoang cùng |
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ