Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 30. CÁC RỐI LOẠN HẬU MÔN VÀ QUANH HẬU MÔN

64 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 30. CÁC RỐI LOẠN HẬU MÔN VÀ QUANH HẬU MÔN

Anal and perianal disorders
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 30, 447-462


Giới thiệu

Các rối loạn hậu môn và quanh hậu môn chiếm khoảng 20% số lượng người bệnh được chuyển đến khám ngoại trú ngoại khoa tổng quát. Các tình trạng bệnh lý tại vùng này có thể gây đau khổ hoặc xấu hổ, và người bệnh thường chịu đựng các triệu chứng trong một thời gian dài trước khi tìm kiếm lời khuyên y tế. Các triệu chứng hậu môn thường gặp được tóm tắt trong Hộp 30.1.

Phạm vi các rối loạn hậu môn và quanh hậu môn được minh họa trong Hình 30.1. Bệnh trĩ (Haemorrhoids) và các tình trạng lành tính thường gặp khác tất nhiên phải được phân biệt với ung thư biểu mô trực tràng và hậu môn. Hầu hết các tình trạng hậu môn và quanh hậu môn lành tính có thể được điều trị ngoại trú, mặc dù áp-xe và trĩ nghẹt hoặc trĩ tắc mạch (huyết khối) có thể biểu hiện như các cấp cứu ngoại khoa cần được điều trị nội trú.

Hộp 30.1: Các triệu chứng hậu môn thường gặp

  • Chảy máu hậu môn
  • Ngứa và khó chịu vùng hậu môn
  • Đau khi đại tiện
  • Ngứa và kích ứng quanh hậu môn
  • Cảm giác “có khối gì đó sa xuống”
  • Tiết dịch quanh hậu môn
  • Khối u tại hậu môn

Hình 30.1: Các rối loạn hậu môn và quanh hậu môn. 

Giải phẫu ống hậu môn

Ống hậu môn chính danh dài khoảng 4–5 cm (0.04-0.05 m) ở nam giới và 3 cm (0.03 m) ở nữ giới. Nó kéo dài từ bờ trên đến bờ dưới của cơ thắt trong. Ống này đi xuyên qua sàn chậu hay cơ nâng hậu môn (bao gồm cả cơ mu-trực tràng) để mở ra tại lỗ hậu môn (Hình 30.2). Có lớp da bình thường điển hình xung quanh rìa hậu môn, được cấu tạo bởi biểu mô vảy tầng chứa các phần phụ của da – tuyến mồ hôi, nang lông và tuyến bã nhờn.

Trực tràng đi theo độ cong của xương cùng xuống dưới và cong ra trước trong khi ống hậu môn tạo góc ra sau. Khi cơ mu-trực tràng co lại, nó làm nổi bật góc của mối nối hậu môn-trực tràng – một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự tự chủ (continence).

Ống hậu môn được bao quanh bởi phức hợp cơ thắt hậu môn, bao gồm bốn lớp và khoang đồng tâm. Từ trong ra ngoài, các lớp này là niêm mạc và dưới niêm mạc; cơ thắt trong hậu môn; khoang gian cơ thắt; và cơ thắt ngoài hậu môn. Tại sàn chậu, cơ trơn dọc của trực tràng kết hợp với cơ vân của cơ nâng hậu môn để tạo thành cơ dọc kết hợp (conjoined longitudinal muscle). Các sợi cơ của cơ này đi xuống qua khoang gian cơ thắt và tỏa ra, đi xuyên qua các cơ thắt trong và ngoài. Phức hợp cơ thắt hậu môn được ổn định thụ động bởi mô liên kết, và chủ động bởi các cơ của sàn chậu.

Các loại niêm mạc trong ống hậu môn

Có ba vùng liên tiếp tính từ rìa hậu môn, mỗi vùng có một lớp biểu mô lót khác nhau:

  1. Vùng xa (Distal zone): Là biểu mô vảy không sừng hóa, thiếu các phần phụ của da hoặc các tuyến. Nó kéo dài từ da quanh hậu môn ở phía xa đến các van hậu môn tại đường lược (pectinate line) ở phía gần. Biểu mô này chứa một số tế bào hắc tố (melanocytes) có thể trải qua biến đổi ác tính để trở thành u hắc tố (melanoma) hậu môn hiếm gặp nhưng rất ác tính. Vùng xa này cực kỳ nhạy cảm, ví dụ như khi tiêm.
  2. Vùng chuyển tiếp (Transitional zone): Kéo dài một đoạn thay đổi từ 0.3–2 cm (0.003-0.02 m) giữa vùng xa và vùng gần. Niêm mạc này là biểu mô chuyển tiếp hình lập phương tầng giống như biểu mô đường niệu (urothelium), dày từ 4 đến 9 lớp tế bào. Một loại ung thư biểu mô hậu môn độc nhất có nguyên nhân do virus có thể phát triển từ vùng này.
  3. Vùng gần (Proximal zone): Được lót bởi niêm mạc trực tràng cấu tạo từ biểu mô trụ. Khi quan sát qua soi hậu môn, nó có màu đỏ xanh sẫm tại nơi nó phủ lên đám rối tĩnh mạch dưới niêm mạc, trở thành màu hồng điển hình của niêm mạc trực tràng ở phía gần hơn. Niêm mạc này tương đối không nhạy cảm.

Vùng dưới niêm mạc nằm sâu trong lớp niêm mạc chứa mô liên kết, mạch máu và lớp cơ niêm. Niêm mạc và dưới niêm mạc hậu môn gấp nếp thành 6–10 nếp gấp dọc được gọi là các cột Morgagni, mỗi cột chứa các nhánh tận của động mạch và tĩnh mạch trực tràng trên. Các nếp gấp này nổi bật nhất ở các vị trí bên trái, sau phải và trước phải, nơi các mạch máu tạo thành các đệm hậu môn (anal cushions) nổi bật giúp hỗ trợ duy trì sự tự chủ. Chúng có thể phì đại một cách bệnh lý để hình thành bệnh trĩ, là các tập hợp phức tạp của các tiểu động mạch, động mạch, tiểu tĩnh mạch, túi tĩnh mạch và mô liên kết. Các cột hậu môn không dễ nhìn thấy khi soi hậu môn, nhưng sự chuyển tiếp giữa niêm mạc tuyến trực tràng và niêm mạc hậu môn vùng xa có thể nhìn thấy rõ ràng. Hệ bạch huyết của phần trên ống hậu môn dẫn lưu về chuỗi hạch bạch huyết chậu và bụng, trong khi phần dưới của ống hậu môn dẫn lưu về hạch bẹn. Điều này quan trọng trong sự lan tràn của ung thư.

Các cột hậu môn kết thúc tại các nếp gấp hình lưỡi liềm – được gọi là van hậu môn với các hõm nhỏ nằm giữa chúng, gọi là xoang hậu môn. Các van và xoang cùng nhau tạo thành hình răng cưa của đường lược. Lớp cơ niêm của trực tràng tiếp tục đi xuống phía xa bên trong lớp dưới niêm mạc.

Hình 30.2: Giải phẫu ống hậu môn. (A) Cho thấy giải phẫu chi tiết: Nếp gấp ngang trực tràng, Xương chậu, Cơ bịt trong, Cơ nâng hậu môn, Vùng chuyển tiếp, Đường lược, Niêm mạc, Hố ngồi-trực tràng chứa đầy mỡ lỏng lẻo, Da hậu môn thật sự, Cột hậu môn (rõ nhất ở vị trí 3, 7 và 11 giờ và chứa các nhánh tận của động mạch và tĩnh mạch trực tràng trên), Van hậu môn (các tuyến hậu môn mở vào vùng này), Cơ mu-trực tràng, Cơ thắt ngoài, Cơ thắt trong, Đường trắng Hilton (hiếm khi nhìn thấy nhưng sờ thấy như một rãnh giữa cơ thắt trong và ngoài). (B) Cho thấy cách cơ mu-trực tràng giúp duy trì sự tự chủ: Trực tràng, Cơ mu-trực tràng, Xương mu, Ống hậu môn.

Phức hợp cơ thắt hậu môn (Hình 30.2)

Cơ chế thắt hậu môn có ba thành phần: cơ thắt trong là một phần của thành trực tràng; cơ thắt ngoài; và cơ mu-trực tràng. Cơ thắt ngoài và đai cơ mu-trực tràng (một phần của cơ nâng hậu môn) xuất phát từ sàn chậu.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ