Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). CHƯƠNG 45. CÁC RỐI LOẠN VỀ DA NGOẠI KHOA

75 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


CHƯƠNG 45. CÁC RỐI LOẠN VỀ DA NGOẠI KHOA

Disorders of the skin
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 45, 633-651


Giới thiệu

Chỉ một số ít các rối loạn về da có tầm quan trọng về mặt ngoại khoa, bao gồm các tổn thương gây mất thẩm mỹ, các khối u và các tổn thương có tiềm năng ác tính. Những trường hợp này thường được chuyển đến bác sĩ phẫu thuật để cắt bỏ hoặc để xử trí dứt điểm sau khi sinh thiết. Các vết loét chi dưới ở phương Tây thường có nguồn gốc tĩnh mạch (xem Chương 42), động mạch hoặc do thần kinh/thiếu máu cục bộ ở người bệnh đái tháo đường (xem Chương 40). Loét chân ở các nước nhiệt đới thường có nguồn gốc vi khuẩn. Loét cũng là một đặc điểm của các tổn thương da ác tính.

Các rối loạn da ngoại khoa thường được chuyển đến bác sĩ da liễu, nhưng vẫn chiếm khoảng 15% số ca chuyển đến phòng khám ngoại khoa tổng quát mới. Nhiều trường hợp chỉ yêu cầu sinh thiết cắt bỏ (excision biopsy) dưới gây tê tại chỗ. Một số khác được chuyển đến để xin ý kiến tư vấn sau khi tổn thương đã được cắt bỏ bởi bác sĩ gia đình.

Hầu hết các bệnh lý ác tính về da được quản lý lý tưởng nhất bởi một đội ngũ đa chuyên khoa (MDT) bao gồm bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ da liễu, bác sĩ ung bướu, bác sĩ giải phẫu bệnh và đôi khi cả bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và điều dưỡng chuyên khoa.

Một tỷ lệ nhỏ các tổn thương da có diễn tiến nguy hiểm tiềm tàng, đáng chú ý là u hắc tố ác tính (malignant melanoma – MM). Loại này chiếm khoảng 5% các ca ung thư da tại Vương quốc Anh nhưng lại chiếm phần lớn số ca tử vong do ung thư da (75%). Tỷ lệ mắc của tất cả các loại ung thư da (u hắc tố, ung thư biểu mô tế bào đáy (basal cell carcinoma – BCC) và ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinomas – SCCs)) cùng các giai đoạn tiền ung thư của chúng tăng lên theo mức độ phơi nhiễm ánh nắng mặt trời và cao nhất ở những người da sáng màu. Tần suất của tất cả các bệnh ung thư da đang gia tăng ở phương Tây do việc đi du lịch nước ngoài ngày càng nhiều và, ở những quốc gia nhiều nắng như Úc, chúng đã đạt đến tỷ lệ dịch tễ.

Cuối cùng, móng tay/chân, vốn là các phần phụ biệt hóa của da, cũng đặt ra các vấn đề ngoại khoa dưới dạng móng chọc thịt nhiễm trùng và móng vuốt (onychogryphosis). U hắc tố dưới móng (subungual melanoma) hiếm gặp là một chẩn đoán quan trọng không được bỏ sót.

Tổng quan về da

Da là cơ quan lớn nhất trong cơ thể và chức năng chính của nó là bảo vệ, điều hòa và cảm giác. Da bảo vệ chống lại các lực cơ học như áp lực và sự mài mòn, tia cực tím và nhiệt, đồng thời hoạt động như một rào cản chống lại các mầm bệnh. Các chức năng điều hòa bao gồm nhiệt độ (thông qua giãn mạch, co mạch và đổ mồ hôi), chuyển hóa vitamin D và ngăn ngừa mất dịch, trong khi cảm giác bao gồm xúc giác, áp lực, ngứa và đau.

Hình 45.1 Cấu trúc của da và các tổn thương quan trọng trong ngoại khoa.

Cấu trúc da bình thường (Hình 45.1)

Da có ba lớp chính: thượng bì (lớp chống thấm bảo vệ), trung bì và hạ bì:

  • Thượng bì (Epidermis) có bốn lớp – từ đáy ra ngoài: lớp đáy, lớp gai, lớp hạt và lớp sừng (keratin). Sự phân chia tế bào thường chỉ xảy ra ở lớp đáy.
  • Trung bì (Dermis) bao gồm các lớp nhú và lớp lưới, được ngăn cách bởi một đám rối mạch máu (trung bì giữa). Trung bì chứa các tế bào sừng (keratinocytes), các sợi collagen và elastin do nguyên bào sợi sản xuất, và cả chất căn bản cấu tạo chủ yếu từ glycosaminoglycans.
  • Lớp sâu nhất là hạ bì (hypodermis), bao gồm mô mỡ xơ lỏng lẻo và chứa các phần phụ của da – tuyến mồ hôi (chủ yếu là tuyến tiết/eccrine), tuyến đầu tiết/apocrine (tuyến mồ hôi ở nách, bẹn và quanh núm vú), nang lông và các tuyến bã nhờn kèm theo.

Da thường di động trên các cấu trúc sâu hơn vì hạ bì chỉ liên kết lỏng lẻo với mạc nông, nhưng da lại bám chặt vào mạc ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và da đầu.

Collagen ở lớp lưới sâu cung cấp phần lớn độ bền của da, trong khi hàm lượng elastin góp phần tạo nên độ đàn hồi. Cả hai lớp đều được tưới máu tốt và giàu đầu mút thần kinh. Sự định hướng của các sợi collagen và elastin trong lớp trung bì xác định các đường căng da, trước đây được gọi là đường Langer. Ngày nay chúng được gọi là các đường Căng da Phẫu thuật Sinh động học (Biodynamic Excisional Skin Tension – BEST) – xem Chương 10. Những đường này quan trọng trong phẫu thuật vì các đường rạch song song với chúng sẽ liền thương với sẹo tối thiểu.

Các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn da

Khi tỷ lệ ung thư da tiếp tục gia tăng ở tất cả các nhóm tuổi trưởng thành, số lượng người bệnh được chuyển đến với các tổn thương da cũng tăng theo. Người bệnh có thể lo lắng về sự thay đổi hình dạng của một tổn thương như kích thước, hình dáng hoặc màu sắc, hoặc những thay đổi trong biểu hiện của nó như đau, chảy máu hoặc loét. Việc đánh giá bất kỳ tổn thương da mới nào cũng bắt đầu bằng hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng để đưa ra chẩn đoán phân biệt và kế hoạch quản lý.

Hỏi bệnh (History)

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ