Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
Chương 8. Các vấn đề Nội khoa (Liên quan đến phẫu thuật)
Medical problems
Clive R.G. Quick, MBBS(London), FDS, FRCS(England), MS(London), MA(Cantab); Suzanne M. Biers, BSc, MBBS, MD, FRCS; Tan H.A. Arulampalam, MBBS, MD, FRCS
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 8, 115-132
Giới thiệu
Các phẫu thuật ngoại tổng quát (general surgical operations) ngày nay thường được thực hiện trên những người bệnh (patients) lớn tuổi, yếu hơn và có các bệnh đi kèm (comorbidities) nghiêm trọng, thường là đa bệnh, do đó, việc nhận diện các tình trạng ‘nội khoa’ (medical) này và tối ưu hóa chúng trước phẫu thuật (surgery) ngày càng trở nên quan trọng hơn. Các báo cáo chi tiết từ các đợt kiểm toán kết quả phẫu thuật bụng cấp cứu đã được Kiểm toán Quốc gia về Phẫu thuật Mở bụng Cấp cứu của Vương quốc Anh công bố (xem: https://www.nela.org.uk/reports). Trong các báo cáo này, người bệnh nguy cơ cao được định nghĩa là người có nguy cơ tử vong sau mổ ước tính lớn hơn 5%. Nhóm này cũng bao gồm bất kỳ người bệnh nào trên 50 tuổi mắc đái tháo đường hoặc suy thận và bất kỳ người bệnh nào trên 65 tuổi trải qua phẫu thuật tiêu hóa hoặc mạch máu lớn. Người bệnh nguy cơ cao lý tưởng nhất nên được đánh giá nguy cơ trước mổ để xây dựng một kế hoạch xử trí phù hợp. Theo truyền thống, việc này do các bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê chủ trì, nhưng ngày càng có thêm sự tham gia của bác sĩ chuyên khoa lão (specialist geriatrician) đối với người bệnh lớn tuổi. Điều này được tiên phong bởi các bác sĩ lão khoa-chấn thương chỉnh hình (ortho-geriatricians) làm việc phối hợp với các bác sĩ gây mê và bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình trong việc xử trí gãy cổ xương đùi, một tình trạng trước đây có tỷ lệ tử vong cao không thể chấp nhận được. Tại nhiều trung tâm ở Vương quốc Anh, các bác sĩ chuyên khoa lão có chuyên môn về xử trí chu phẫu các vấn đề ngoại khoa tổng quát đang được bổ nhiệm. Một trong những vai trò chính của nhóm là nhận diện và điều trị nhanh chóng tình trạng nhiễm trùng sau mổ và nhiễm trùng huyết tiềm ẩn.
Các rối loạn nội khoa xuất hiện trong thực hành ngoại khoa theo bốn cách chính:
■ Một tình trạng nội khoa có sẵn có thể là nguyên nhân thúc đẩy người bệnh nhập viện ngoại khoa. Điều này có thể do đợt cấp, sự tiến triển hoặc các biến chứng của bệnh: ví dụ, các vấn đè ở bàn chân trong bệnh đái tháo đường.
■ Một tình trạng nội khoa có sẵn có thể trở nên tồi tệ hơn do một cuộc phẫu thuật. Ví dụ, trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD – chronic obstructive pulmonary disease), gây mê toàn thân và ứ đọng đờm sau mổ có thể dẫn đến viêm phổi đe dọa tính mạng.
■ Một tình trạng ngoại khoa có thể bị phức tạp hóa bởi một rối loạn nội khoa không liên quan. Ví dụ, một người bệnh bị viêm khớp dạng thấp đang điều trị bằng steroid dễ bị suy giảm khả năng liền vết thương và nhiễm trùng tái phát, cũng như nguy cơ mất vững cột sống cổ.
■ Một bệnh lý tiềm ẩn (occult condition) có thể biểu hiện rõ lên dưới tác động của stress do gây mê và phẫu thuật. Ví dụ, nhồi máu cơ tim trong hoặc sau mổ có thể xảy ra ở những người bệnh có bệnh tim thiếu máu cục bộ tiềm ẩn.
■ Một vấn đề nội khoa mới có thể bị khởi phát bởi một biến chứng ngoại khoa. Ví dụ, cơn rung nhĩ (AF – atrial fibrillation) nhanh mới khởi phát xảy ra do hậu quả của xì rò miệng nối ruột.
Bệnh lý tim mạch và mạch máu não
Phẫu thuật cấp cứu ở người bệnh có bệnh lý tim mạch có nguy cơ tử vong cao gấp khoảng bốn lần so với cùng một cuộc phẫu thuật được thực hiện theo chương trình. Do đó, đánh giá trước mổ thậm chí còn quan trọng hơn ở những người bệnh cấp cứu để các bất thường tim mạch có thể được nhận diện và ổn định, các rối loạn điện giải được điều chỉnh, và áp dụng phương pháp gây mê, kỹ thuật phẫu thuật, theo dõi và chăm sóc sau mổ phù hợp để giảm thiểu nguy cơ.
Bệnh tim thiếu máu cục bộ
Các biểu hiện lâm sàng phổ biến của bệnh tim thiếu máu cục bộ là:
■ Tiền sử nhồi máu cơ tim
■ Đau thắt ngực ổn định mạn tính khi gắng sức
■ Hội chứng vành cấp (ACS – Acute coronary syndrome)
■ Suy tim
■ Rối loạn nhịp tim (ví dụ: Rung nhĩ)
■ Rối loạn dẫn truyền (ví dụ: block tim hoàn toàn)
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ