Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh (Ấn bản thứ 2, 2026). CHƯƠNG 33. SINH LÝ HỌC CHUYỂN HOÁ CANXI, PHOTPHO VÀ XƯƠNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THAI NHI VÀ TRẺ SƠ SINH

64 phút đọc

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026). 
Dịch và Chú giải tiếng Việt:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng

Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 33. SINH LÝ HỌC CHUYỂN HOÁ CANXI, PHOTPHO VÀ XƯƠNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THAI NHI VÀ TRẺ SƠ SINH

Christopher S. Kovács, Leanne M. Ward

Khoa Y – Nội tiết học, Đại học Memorial Newfoundland, St. John’s, NL, Canada; Trung tâm Khoa học Y tế, St. John’s, NL, Canada; Khoa Nhi, Khoa Y, Đại học Ottawa, Ottawa, ON, Canada; Phân khoa Nội tiết, Bệnh viện Nhi đồng Đông Ontario, Ottawa, ON, Canada.

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

– Canxi và photpho huyết thanh được duy trì ở mức cao trong tuần hoàn thai nhi để tạo thuận lợi cho quá trình khoáng hoá xương (skeletal mineralization).

– Hormone tuyến cận giáp (parathyroid hormone – PTH) và calcitriol đều lưu hành ở mức thấp, trong khi protein liên quan đến PTH (PTH-related protein – PTHrP) hiện diện ở nồng độ cao trong huyết tương.

– PTHrP kích thích quá trình vận chuyển canxi qua nhau thai (placental calcium transport), trong khi PTH và PTHrP cùng nhau điều hoà sự phát triển của bộ xương và nồng độ khoáng chất trong huyết thanh.

– Calcitriol có thể không cần thiết đối với cân bằng nội môi khoáng chất ở thai nhi (fetal mineral homeostasis) và sự phát triển của bộ xương, nhưng trở nên quan trọng sau khi sinh để điều hoà quá trình hấp thu canxi và photpho ở ruột.

– Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-23 (fibroblast growth factor-23 – FGF23) không cần thiết cho thai nhi, nhưng bắt đầu điều hoà chuyển hoá photpho trong vòng vài giờ sau sinh.

33.1 Giới Thiệu

Hormone tuyến cận giáp (parathyroid hormone – PTH), calcitriol, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-23 (fibroblast growth factor-23 – FGF23), calcitonin và các steroid sinh dục (sex steroids – chủ yếu là estradiol và testosterone) đều đóng những vai trò quan trọng trong việc điều hoà cân bằng nội môi khoáng chất và xương ở trẻ em và người lớn. Sự thiếu hụt bất kỳ yếu tố nào trong số này đều có thể gây ra những hậu quả đáng kể. Tuy nhiên, vai trò của mỗi hormone lại khác biệt trong quá trình phát triển của thai nhi, đến mức sự vắng mặt của calcitriol hoặc FGF23 chỉ gây ra rất ít hoặc không gây ra rối loạn nào. Một hormone khác, protein liên quan đến PTH (PTH-related protein – PTHrP), có vai trò thiết yếu trong việc điều hoà chuyển hoá khoáng chất và xương của thai nhi.

Trung bình một em bé con người khi đủ tháng có 30 g canxi, trong đó 80% được tích lũy trong ba tháng cuối thai kỳ. Thận và ruột không phải là nguồn cung cấp khoáng chất quan trọng; thay vào đó, nhau thai chủ động vận chuyển canxi, photpho và magie từ tuần hoàn của người mẹ (Hình 33.1). Quá trình vận chuyển canxi tăng từ tốc độ 60 mg mỗi ngày ở tuần thứ 24 lên từ 300 đến 350 mg mỗi ngày trong 6 tuần cuối. Khoáng chất trong huyết thanh được duy trì ở nồng độ cao hơn so với người mẹ, điều này tạo thuận lợi cho quá trình khoáng hoá bộ xương của thai nhi.

Sau khi sinh, cơ chế bơm của nhau thai biến mất, ruột trở thành nguồn cung cấp khoáng chất chính, thận tái hấp thu canxi và bài tiết photpho, đồng thời quá trình chu chuyển xương (bone turnover) đóng góp khoáng chất vào tuần hoàn. Trong khoảng thời gian từ vài giờ đến vài ngày, quá trình chuyển hóa khoáng chất thay đổi để trở nên giống với quá trình này ở người lớn.

Dữ liệu ở người liên quan đến sự phát triển của thai nhi chủ yếu bao gồm các mẫu máu cuống rốn và kết quả khám nghiệm giải phẫu bệnh (pathological examination) của phôi thai và thai nhi tử vong do dị tật bẩm sinh hoặc tai biến sản khoa. Do đó, chương này cũng sẽ tham chiếu đến các nghiên cứu trên mô hình động vật mang thai. Do giới hạn về danh sách tài liệu tham khảo, một bài tổng quan toàn diện sẽ được trích dẫn chính, trong đó chứa hơn 700 trích dẫn từ các tài liệu nghiên cứu gốc có liên quan.

Hình 33.1 Vòng tuần hoàn của khoáng chất bên trong đơn vị thai nhi-nhau thai. Canxi được minh họa ở đây nhưng những nguyên lý này cũng áp dụng cho photpho và magie. Ở góc trên bên phải, dòng chảy chính của khoáng chất đi qua nhau thai và qua tuần hoàn thai nhi để vào xương; tuy nhiên, một phần khoáng chất quay trở lại tuần hoàn mẹ (dòng chảy ngược). Ở góc dưới bên phải, thận thai nhi lọc máu và bài tiết khoáng chất vào nước tiểu, từ đó tạo thành phần lớn dịch ối. Ở góc dưới bên trái, dịch ối được nuốt vào và hàm lượng khoáng chất trong đó có thể được hấp thu, từ đó đưa khoáng chất trở lại tuần hoàn. Vòng lặp thận-ối-ruột có thể là một thành phần phụ đối với cân bằng nội môi khoáng chất của thai nhi. Ở góc trên bên trái, mặc dù dòng chảy thuần của khoáng chất là đi vào xương, một phần khoáng chất được tiêu ngót từ bộ xương đang phát triển để tái xâm nhập vào tuần hoàn thai nhi. Nếu việc cung cấp khoáng chất từ nhau thai bị thiếu hụt, tình trạng cường cận giáp thứ phát ở thai nhi (fetal secondary hyperparathyroidism) sẽ xảy ra, làm tiêu ngót khoáng chất từ bộ xương thai nhi, giảm hàm lượng khoáng chất trong xương và có thể gây gãy xương trong tử cung hoặc trong quá trình chuyển dạ. (Nguồn: Trích dẫn với sự cho phép bản quyền năm 2017 của Elsevier. Kovacs CS, Fetal control of calcium and phosphate homeostasis. In: Thakker RV, Whyte MP, Eisman JA, Igarashi T, editors. Genetics of bone biology and skeletal disease, 2nd ed. San Diego, CA: Academic Press/Elsevier; 2017. p. 329-47).

33.2 Tổng Quan Về Chuyển Hoá Khoáng Chất Ở Thai Nhi

Nồng độ lưu hành bình thường của các khoáng chất, cùng các hormone hướng canxi (calciotropic hormones) và hướng photpho (phosphotropic hormones) được phác họa dưới dạng sơ đồ trong Hình 33.2.

33.2.1 Nồng Độ Khoáng Chất Huyết Thanh

Ít nhất từ tuần thai thứ 15 trở đi, thai nhi người duy trì nồng độ canxi toàn phần và canxi ion hoá trong huyết thanh cao hơn nồng độ của người mẹ khoảng 0.30 – 0.50 mmol/L. Photpho và magie huyết thanh tương ứng cao hơn khoảng 0.5 và 0.05 mmol/L so với người mẹ. Do đó, máu thai nhi có một tích số canxi photpho (calcium phosphorus product – Ca x P) cao. Ở người lớn, giá trị Ca x P lớn hơn 5.6 mmol2/L2 hoặc 70 mg2/dL2 sẽ gây ra sự hình thành tự phát các tinh thể canxi-photphat, dẫn đến vôi hoá mô mềm (soft tissue calcifications), xơ cứng mạch máu do canxi hoá (calciphylaxis), vôi hoá động mạch vành và làm tăng tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, tích số Ca x P cao lại không gây nguy hiểm trong môi trường tử cung, nguyên nhân có thể là do sự hấp thu nhanh chóng vào xương và thời gian mang thai tương đối ngắn. Các nghiên cứu trên loài gặm nhấm đã chỉ ra rằng nếu canxi huyết thanh giảm xuống bằng mức của người mẹ, thì bộ xương của thai nhi sẽ bị khoáng hoá kém. Do đó, tình trạng tăng canxi máu sinh lý (physiological hypercalcemia) ở thai nhi tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình khoáng hoá xương; nó cũng có thể làm giảm khả năng xảy ra hạ canxi máu sau khi sinh (xem phần tiếp theo).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ