Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh (Ấn bản thứ 2, 2026). CHƯƠNG 36. SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG CỦA VỎ VÀ TỦY THƯỢNG THẬN Ở THAI NHI VÀ TRẺ SƠ SINH

58 phút đọc

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026). 
Dịch và Chú giải tiếng Việt:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng

Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 36. SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG CỦA VỎ VÀ TỦY THƯỢNG THẬN Ở THAI NHI VÀ TRẺ SƠ SINH

Mônica F. Stecchini, Fernando S. Ramalho và Sonir R. Antonini

Trường Y khoa Ribeirão Preto, Đại học São Paulo, São Paulo, Brazil

 

CÁC THAY ĐỔI LÂM SÀNG CHÍNH

Vỏ thượng thận (adrenal cortex) và tủy thượng thận (adrenal medulla) có nguồn gốc, chức năng và cơ chế điều hòa khác nhau. Do đó, các khiếm khuyết ảnh hưởng đến cả hai thành phần này là cực kỳ hiếm gặp.

Nồng độ dehydroepiandrosterone/dehydroepiandrosterone sulfate (DHEA/DHEAS) ở trẻ sơ sinh rất cao do sự hiện diện của vùng thai nhi (fetal zone) trong vỏ thượng thận. Tuy nhiên, trong những tuần và tháng sau khi sinh, nồng độ DHEA/DHEAS giảm nhanh chóng do sự thoái triển của vùng này.

Nhịp sinh học cortisol tiết theo ngày bình thường được thiết lập sớm (giữa lúc sinh và 3 tháng tuổi).

36.1 Giới Thiệu

Tuyến thượng thận (adrenal glands) là các cơ quan nội tiết hai bên nằm ở mặt sau trong của thận. Chúng bao gồm hai phần, vỏ và tủy, khác nhau về nguồn gốc, thành phần và chức năng. Vỏ thượng thận, phần bên ngoài có nguồn gốc từ trung bì (mesoderm), chủ yếu bao gồm các tế bào tạo steroid (steroidogenic cells), và tổng hợp các hormone steroid. Tủy thượng thận, phần bên trong có nguồn gốc từ ngoại bì thần kinh (neuroectoderm), chủ yếu bao gồm các tế bào ưa crom (chromaffin cells), và tổng hợp các catecholamine. Các tế bào vỏ và tủy có sự tiếp xúc thân mật trong cả thời kỳ trước sinh và sau sinh.

Trước khi sinh, những tuyến này là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển và trưởng thành của thai nhi và do đó, cho sự chuyển tiếp từ cuộc sống thai nhi sang sơ sinh. Sau khi sinh, chúng có vai trò thiết yếu trong sự sống còn, các phản ứng thích nghi với căng thẳng (stress), cân bằng nội môi dịch, và sự phát triển của các đặc điểm sinh dục thứ phát. Do đó, sự phát triển và chức năng phù hợp của chúng – liên quan đến các tương tác giữa mẹ, nhau thai và thai nhi – là rất quan trọng cho một số quá trình sinh lý có thể ảnh hưởng đến thai nhi, trẻ sơ sinh và người lớn trong tương lai.

Chương này đánh giá sự phát triển, cấu trúc và chức năng của tuyến thượng thận, tập trung vào thời kỳ thai nhi và sơ sinh. Kể từ ấn bản đầu tiên của cuốn sách này, đã có một số tiến bộ trong kiến thức của chúng ta, đặc biệt là về các giai đoạn đầu của sự phát triển vỏ thượng thận ở người.

36.2 Sự Phát Triển Tuyến Thượng Thận

Sự phát triển của tuyến thượng thận bắt đầu sớm trong quá trình hình thành phôi thai (embryogenesis) và tiếp tục vào cuộc sống người lớn. Hình 36.1 và 36.2 minh họa các giai đoạn phát triển của tuyến thượng thận. Mặc dù các cột mốc quan trọng của quá trình này đã được biết đến, thời điểm chính xác mà chúng xảy ra thay đổi giữa các nghiên cứu, và các cơ chế cơ bản kiểm soát chúng vẫn đang được làm sáng tỏ.

Như đã đề cập trước đó, hai thành phần của tuyến thượng thận có nguồn gốc phôi thai khác nhau. Trong khi vỏ thượng thận có nguồn gốc từ các tế bào của trung bì trung gian (intermediate mesoderm), thì tủy thượng thận có nguồn gốc từ các tế bào của ngoại bì thần kinh.

Hình 36.1 Sự phát triển của vỏ và tủy thượng thận. Tại thời điểm 4 tuần thai kỳ, các tế bào từ biểu mô thể khoang (celomic epithelium) bắt đầu hình thành mầm tuyến thượng thận – sinh dục (adrenogonadal primordium), mà sau này sẽ tạo ra cả mầm tuyến thượng thận và mầm tuyến sinh dục. Tại thời điểm 6 tuần, các tế bào từ mào thần kinh (neuro crest) bắt đầu di cư vào mầm tuyến thượng thận, tạo thành các đảo tế bào ưa crom (islands of chromaffin cells), mà sẽ hình thành tủy thượng thận sau khi sinh. Tại thời điểm 9 tuần, tuyến thượng thận đang phát triển được bao bọc trong nang. Tuyến thượng thận tiếp tục phát triển trong thời kỳ sau sinh, cho đến khi nó biệt hóa hoàn toàn ở tuổi trưởng thành. Những thay đổi chính sau sinh là sự thoái triển của vùng thai nhi (fetal zone) sau khi sinh và sự phát triển của lớp lưới (zona reticularis) trong thời thơ ấu.

Hình 36.2 Các vi phẫu hình ảnh của vỏ thượng thận, cho thấy phổ các thay đổi hình thái trong quá trình phát triển của tuyến. Ở thai nhi, vùng thai nhi (Ft) chiếm 80%-90% vỏ thượng thận (Trước sinh 11 và 28 tuần nhuộm HE độ phóng đại 100x). Khi sinh ra, vùng thai nhi bắt đầu thoái triển, đồng thời với sự biến đổi của vùng vĩnh viễn (D) và vùng chuyển tiếp (HE độ phóng đại 100x). Vỏ thượng thận ở trẻ trước tuổi dậy thì chỉ bao gồm lớp cung (G) và lớp bó (F). Ở vỏ thượng thận người lớn, lớp trong cùng là lớp lưới (R – Trẻ em và người lớn – HE độ phóng đại tương ứng 100x và 40x).

Vỏ thượng thận ở người được cho là có chung một tiền thân với tuyến sinh dục: mầm tuyến thượng thận – sinh dục (adrenogonadal primordium – AGP). Dựa trên dữ liệu trước đây, AGP bao gồm một quần thể hỗn hợp các tế bào tiền thân vỏ thượng thận và tuyến sinh dục phát sinh từ sự dày lên hai bên của biểu mô thể khoang – có nguồn gốc từ trung bì trung gian – vào khoảng 4 tuần thai kỳ. Các phần khác nhau của AGP sau đó tách ra và di cư để tạo thành mầm tuyến thượng thận và mầm tuyến sinh dục.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ