Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 12: Xử trí cuộc đẻ

43 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)


Chương 12: Xử trí cuộc đẻ
Management of delivery
Sabaratnam Arulkumaran
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 12, 197-212


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong chương này, bạn có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Trình bày cơ chế của một cuộc sinh thường ngả âm đạo.
  • Mô tả nguyên nhân, chẩn đoán và xử trí các ngôi thai và kiểu thế bất thường thường gặp trong chuyển dạ.
  • Định nghĩa các loại tổn thương tầng sinh môn.
  • Mô tả chỉ định, phương pháp và biến chứng của sinh ngả âm đạo và mổ lấy thai.
  • Liệt kê các yếu tố nguy cơ và các bước xử trí ban đầu của kẹt vai.
  • Mô tả các biến chứng trong giai đoạn ba của chuyển dạ, bao gồm băng huyết sau sinh, tổn thương tầng sinh môn, tụ máu và thuyên tắc ối.

Năng lực lâm sàng

  • Thực hiện đỡ một cuộc sinh thường ngả âm đạo.
  • Thực hiện khâu tầng sinh môn trên mô hình thực hành.
  • Giải thích các thủ thuật mổ lấy thai và sinh có can thiệp dụng cụ.

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Xem xét tầm quan trọng của việc lựa chọn phương thức sinh con cùng với sản phụ và tôn trọng ý kiến của các nhân viên y tế khác.
  • Xem xét các tác động về mặt cảm xúc của cuộc sinh đối với sản phụ, gia đình và nhân viên y tế.

Sinh thường ngả âm đạo

Sinh thường ngả âm đạo đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn hai của chuyển dạ.

Giai đoạn hai của chuyển dạ được định nghĩa là khoảng thời gian từ khi cổ tử cung mở hết cho đến khi em bé được sinh ra. Giai đoạn này được chia thành hai pha: pha thụ động (pha xuống trong tiểu khung) và pha chủ động (pha sổ thai qua tầng sinh môn). Trong pha thụ động, sản phụ thường không có cảm giác muốn rặn, và về mặt xử trí, pha này có thể được xem như sự tiếp nối của giai đoạn một. Trong pha chủ động, cảm giác muốn rặn xuất hiện, mặc dù có thể bị che lấp hoặc giảm đi nếu sản phụ được gây tê ngoài màng cứng. Do đó, trừ khi đã thấy đầu thai nhi trong cơn co, cần phải xác định độ mở cổ tử cung và độ lọt của ngôi thai bằng thăm khám âm đạo trước khi khuyến khích sản phụ rặn đẻ.

Nếu không có các yếu tố lâm sàng bất lợi, thời gian bình thường của giai đoạn hai thường được coi là kéo dài đến 2 giờ ở người con so và 1 giờ ở người con rạ. Nếu sản phụ được gây tê ngoài màng cứng, thời gian này được kéo dài thêm 1 giờ cho mỗi nhóm tương ứng. Sự tiến triển trong giai đoạn hai được theo dõi bằng sự xuống của đầu thai nhi, được đánh giá qua thăm khám bụng và âm đạo. Đầu thai nhi đã lọt và thuận lợi cho mẹ rặn đẻ khi sờ nắn trên bụng không thấy quá một phần năm đầu thai và phần xương của ngôi chỏm đã xuống đến ngang mức gai hông.

Nếu cuộc chuyển dạ bình thường, sản phụ có thể chọn nhiều tư thế khác nhau để sinh, nhưng nên tránh tư thế nằm ngửa vì nguy cơ hội chứng hạ huyết áp tư thế nằm ngửa. Nhiều sản phụ chọn tư thế nửa nằm nửa ngồi, có ưu điểm là giảm nguy cơ hạ huyết áp tư thế nằm ngửa và là tư thế phù hợp cho việc sinh có can thiệp hoặc khâu tầng sinh môn nếu cần.

Sinh thường ngả âm đạo

Sản phụ nên được hướng dẫn rặn theo cảm giác của chính mình. Nỗ lực rặn nên cho phép đầu thai nhi sổ ra một cách từ từ, nhẹ nhàng, điều này có thể đạt được bằng cách kết hợp các đợt rặn ngắn với các giai đoạn thở nhanh nông, giúp cho các mô âm đạo và tầng sinh môn có thời gian thư giãn và giãn ra khi đầu thai tiến tới (Hình 12.1). Có thể cần vài cơn co trước khi đầu thai nhi lấp ló và được sinh ra. Để đỡ đầu, có thể sử dụng kỹ thuật “hands-on” – hỗ trợ tầng sinh môn và giúp cúi đầu em bé, hoặc phương pháp “hands-poised” – tay không chạm vào tầng sinh môn nhưng luôn trong tư thế sẵn sàng – để hỗ trợ cho cuộc sinh tự nhiên.

Cắt tầng sinh môn không phải là một thủ thuật thường quy cho các cuộc sinh thường ngả âm đạo nhưng có thể được chỉ định nếu tầng sinh môn bắt đầu rách, nếu sức cản của tầng sinh môn ngăn cản việc sổ đầu hoặc nếu có lo ngại về sức khỏe của thai nhi đòi hỏi phải kết thúc cuộc sinh nhanh chóng. Khi thực hiện cắt tầng sinh môn, kỹ thuật được khuyến nghị là một đường rạch trung-bên tại thời điểm đầu lấp ló, bắt đầu từ mép sau âm hộ và thường hướng tới một góc 60 độ, góc này sẽ trở thành một đường cắt 45 độ khi đầu đã sổ (Hình 12.2).

Với cơn co tiếp theo, đầu thai được kéo nhẹ nhàng xuống dưới theo trục dọc của em bé cho đến khi vai trước được sổ ra dưới vòm mu, sau đó em bé được kéo ra phía trước để sổ vai sau và phần còn lại của thân mình, đồng thời bảo vệ tầng sinh môn khỏi bị rách do vai sau sổ ra.

Hồi sức sơ sinh (A, B, C)

Trẻ sơ sinh thường sẽ khóc ngay sau khi sinh. Nếu trẻ thở chậm, cần hút dịch mũi họng và nếu cần, thông khí hỗ trợ cho bé bằng oxy qua mặt nạ. Nếu việc bắt đầu thở bị trì hoãn hơn nữa, có thể cần đặt nội khí quản và thông khí. Tình trạng của em bé được đánh giá vào lúc 1 và 5 phút bằng hệ thống tính điểm Apgar (Bảng 12.1), và đánh giá lại vào lúc 10 phút nếu em bé bị ngạt. Nếu em bé sinh ra trong tình trạng kém (điểm Apgar dưới 4 ở 1 phút và dưới 7 ở 5 phút), nên kẹp đôi dây rốn để phân tích khí máu động mạch và tĩnh mạch rốn.

Xử trí giai đoạn ba

Xử trí tích cực giai đoạn ba của chuyển dạ được khuyến nghị, bao gồm tiêm bắp cho mẹ 10 đơn vị (IU) oxytocin, sau đó kẹp và cắt rốn muộn (>2 phút). Khi thấy các dấu hiệu bong nhau, tức là dây rốn dài ra, có một ít máu chảy ra và tử cung trở nên tròn, cứng do co bóp và đẩy nhau thai vào đoạn dưới, nhau thai được sổ ra bằng cách kéo dây rốn có kiểm soát, một phương pháp thường được gọi là kỹ thuật Brandt-Andrews (Hình 12.3).

Hình 12.1 Đẻ thường ngả âm đạo. (A) Giai đoạn hai của chuyển dạ, da đầu thai nhi trở nên nhìn thấy được cùng với các cơn co và nỗ lực rặn của sản phụ. (B) Đầu lấp ló. (C) Khi sổ, đầu ở vị trí trước-sau. (D) Sổ đầu và vai.

Hình 12.2 Các vị trí rạch tầng sinh môn: mục tiêu là tránh đường rạch hoặc vết rách lan vào cơ thắt hậu môn hoặc trực tràng.

Bảng 12.1: Đánh giá điểm Apgar lúc 1 và 5 phút

Tiêu chí

0 1 2
Màu sắc Trắng Tím Hồng
Trương lực cơ Mềm nhũn Cứng Bình thường
Nhịp tim Không sờ thấy <100 lần/phút >100 lần/phút
Hô hấp Ngưng thở Không đều Đều
Phản xạ Không có Kém Bình thường

Hình 12.3 Kỹ thuật Brandt-Andrews để hỗ trợ sổ nhau: đáy tử cung phải co cứng với các dấu hiệu bong nhau (một ít máu chảy ra, dây rốn dài ra) trước khi thử kỹ thuật này.

Khâu vết cắt hoặc tổn thương tầng sinh môn

Cần kiểm tra cẩn thận tầng sinh môn của sản phụ càng sớm càng tốt để xác định mức độ tổn thương tầng sinh môn hoặc đường sinh dục trong khi sinh. Tổn thương tầng sinh môn do cắt hoặc rách có thể được phân loại thành rách độ một, độ hai, độ ba hoặc độ bốn. Rách độ một chỉ rách da âm đạo và tầng sinh môn. Rách độ hai bao gồm thành sau âm đạo và các cơ tầng sinh môn bên dưới nhưng không bao gồm cơ thắt hậu môn. Tổn thương độ ba ở tầng sinh môn là tổn thương liên quan đến phức hợp cơ thắt hậu môn, và rách độ bốn là tổn thương tầng sinh môn bao gồm cả niêm mạc hậu môn/trực tràng.

Trong trường hợp rách tầng sinh môn độ một, không cần khâu nếu các mép da đã áp sát vào nhau, miễn là vết thương không chảy máu. Vết cắt tầng sinh môn và vết rách độ hai nên được khâu để giảm thiểu chảy máu và thúc đẩy quá trình lành thương. Vết rách tầng sinh môn độ ba và độ bốn nên được khâu dưới gây tê ngoài màng cứng/tủy sống hoặc gây mê toàn thân bởi một phẫu thuật viên có kinh nghiệm trong phòng mổ với điều kiện ánh sáng tốt. Điều này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong phần tiếp theo.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ