Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sinh lý học Hô hấp ứng dụng của Nunn & Lumb, ấn bản thứ 9. CHƯƠNG 15. BÉO PHÌ

32 phút đọc

Sinh lý học Hô hấp ứng dụng của Nunn & Lumb, ấn bản thứ 9. Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology 9th Edition.
Chủ biên: Andrew Lumb, Caroline Thomas. Nhà xuất bản ELSEVIER. Biên dịch: Ts.Bs. Lê Nhật Huy, Ths.Bs. Lê Đình Sáng. ISBN-13: 978-0702079085. 
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được dịch & chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận, duy nhất trên các website sachyhoc.com & yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM. NGHIÊM CẤM THƯƠNG MẠI HOÁ bản dịch tiếng Việt của cuốn sách này dưới bất cứ hình thức nào.


CHƯƠNG 15. BÉO PHÌ

Obesity
Andrew Lumb, MB BS FRCA; Caroline Thomas, BSc MBChB MRCS(Ed) FRCA
Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology, 15, 199-204.e2


ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

– Người béo phì (obese subjects) suy giảm các thể tích phổi tĩnh và động do khối lượng của thành ngực và các tạng trong ổ bụng chèn ép khoang lồng ngực.

– Tình trạng béo phì làm giảm độ giãn nở của thành ngực (chest wall compliance), và thể tích phổi thấp hơn dẫn đến sự sụt giảm độ giãn nở của phổi cùng với sự gia tăng sức cản đường thở (airway resistance), khiến hiện tượng đóng đường thở (airway closure) xảy ra thường xuyên hơn.

– Những thay đổi nội tiết tố trong bệnh béo phì, chẳng hạn như sự gia tăng nồng độ leptin, ảnh hưởng đến quá trình kiểm soát hô hấp và giúp cơ thể duy trì nhịp thở đầy đủ mặc dù nhu cầu oxy cao hơn. Nhờ đó, hầu hết người béo phì đều duy trì nồng độ oxy và carbon dioxide trong máu động mạch ở mức bình thường.

– Những thay đổi này có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các bệnh lý hô hấp tắc nghẽn (obstructive respiratory diseases). Ở trẻ em, các thay đổi sinh lý này thậm chí có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của phổi, khiến trẻ dễ mắc các bệnh lý và triệu chứng hô hấp hơn trong giai đoạn sau của cuộc đời.

Từ béo phì (obesity) bắt nguồn từ chữ obesus trong tiếng Latinh, có nghĩa là ‘vệ sĩ’ hoặc ‘bệ vệ’, và giới y khoa đã sử dụng thuật ngữ này để mô tả những người thừa cân trong suốt 400 năm qua. Các ý nghĩa khác của từ obesus trong tiếng Latinh bao gồm ‘thô kệch’ hoặc ‘to béo’, vì vậy trong nhiều thế kỷ, cách mô tả nhẹ nhàng hơn là ‘phát tướng’ (corpulent) đã trở nên phổ biến.

Các bác sĩ định lượng tình trạng béo phì theo nhiều cách khác nhau. Biến số phổ biến nhất là chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) – tính bằng trọng lượng của một người (kilogram) chia cho bình phương chiều cao của họ (mét vuông). Giới lâm sàng sử dụng rộng rãi mức BMI thu được để xác định bệnh béo phì và mức độ nghiêm trọng của bệnh như thể hiện trong Bảng 15.1. Mặc dù vậy, đây là một thước đo khá kém vì nó không tính đến khối lượng cơ bắp ở những người tập thể thao hay sự phân bố của mỡ trong cơ thể. Yếu tố phân bố mỡ được ghi nhận tốt hơn thông qua thông số chu vi vòng eo (waist circumference) hoặc tỷ số eo trên mông (waist-to-hip ratio). Các chỉ số này giúp xác định tình trạng béo phì phân bố ở vùng trung tâm: một phát hiện phổ biến hơn ở nam giới và có liên quan đến các rủi ro sức khỏe lớn hơn.

Bảng 15.1 Phân loại Béo phì Lâm sàng ở Người lớn và Tác động của bệnh lên Dung tích Cặn Chức năng (Từ tài liệu tham khảo 2)

Chỉ số khối cơ thể (kg/m2) Phân loại Sự thay đổi của Dung tích Cặn Chức năng so với Người không béo phì
< 18.5 Thiếu cân (Underweight)
18.5 – 24.9 Khỏe mạnh (Healthy)
25 – 29.9 Thừa cân (Overweight) -10%
30 – 34.9 Béo phì độ I (Obese-class I) -22%
35 – 39.9 Béo phì độ II (Obese-class II)
>= 40 Béo phì độ III (Béo phì bệnh lý – morbid obesity) -33%

Tỷ lệ mắc bệnh béo phì đã tăng lên trong nhiều thế kỷ, và giới y khoa toàn cầu hiện công nhận béo phì như một đại dịch. Tốc độ gia tăng cũng đang đẩy nhanh, với các ước tính cho thấy tỷ lệ béo phì trên toàn cầu đã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến 2017, hiện tại chiếm khoảng 5% trẻ em và 12% tổng số người lớn. Sự phân bố có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia. Nhìn chung, tỷ lệ béo phì ở cả người lớn và trẻ em đều cao hơn ở những khu vực có chỉ số nhân khẩu học xã hội (socio-demographic index – SDI) cao, bao gồm thu nhập bình quân đầu người và trình độ học vấn cùng các yếu tố khác. Tuy nhiên, ở một số nhóm nhân khẩu học nhất định, ví dụ như nam thanh niên, sự gia tăng béo phì nhanh nhất đang diễn ra ở các quốc gia có mức SDI từ thấp đến trung bình. Đồng thời, ở hầu hết các khu vực, tốc độ gia tăng tỷ lệ béo phì ở trẻ em cao hơn so với người lớn. Gánh nặng bệnh tật liên quan đến những thay đổi này vô cùng khổng lồ, ước tính gây ra khoảng 4 triệu ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2015. Bệnh lý tim mạch (cardiovascular disease) và đái tháo đường (diabetes) chiếm phần lớn các ca tử vong liên quan đến béo phì, nhưng tác động của bệnh đối với các bệnh lý hô hấp cũng rất đáng kể. Béo phì làm tăng khả năng tiến triển một số bệnh lý hô hấp vì nhiều lý do mà tác giả sẽ mô tả dưới đây. Các triệu chứng hô hấp như khó thở (dyspnoea) và giảm thời gian nhịn thở (reduced breath-hold time) cũng xuất hiện phổ biến hơn ở người béo phì, ngay cả khi họ không mắc bệnh lý hô hấp nào, do những thách thức về mặt sinh lý của tình trạng béo phì nghiêm trọng gây ra.

Sinh Lý Học Hô Hấp Của Bệnh Béo Phì

Béo phì ở mức độ nhẹ và trung bình tác động rất ít lên hệ hô hấp. Tuy nhiên, một khi tình trạng này trở nên nghiêm trọng, tác động sinh lý chính lại xuất phát từ khối lượng của các mô thành ngực. Hình 15.1 hiển thị một phim chụp cắt lớp vi tính (computerized tomography – CT) lồng ngực ở một người bị béo phì nghiêm trọng. Hình ảnh này cho thấy rõ kích thước tương đối của phổi và thành ngực đồng nghĩa với việc quá trình giãn nở của phổi sẽ đòi hỏi nhiều công hô hấp hơn đáng kể so với một người không mắc bệnh béo phì.

Hình 15.1 Phim chụp cắt lớp vi tính lồng ngực ở một bệnh nhân béo phì nghiêm trọng cho thấy một lát cắt đơn độc ở ngang mức ngã ba khí phế quản (carina). Người đọc có thể dễ dàng nhìn thấy độ dày của thành ngực so với kích thước của phổi. A: Trước, P: Sau, L: Trái, R: Phải

Thể Tích Phổi Và Cơ Học Hô Hấp

Áp lực khoang màng phổi (pleural pressure) gia tăng do sự chèn ép từ trọng lượng của thành ngực. Độ giãn nở của hệ hô hấp (respiratory system compliance) suy giảm, với sự đóng góp từ cả hai thành phần là phổi và thành ngực. Các lớp mỡ tích tụ ở thành ngực và trung thất giải thích cho những thay đổi về độ giãn nở của thành ngực, trong khi độ giãn nở của phổi suy giảm rất có thể là hệ quả của việc thể tích phổi bị thu hẹp. Béo phì làm tăng sức cản đường thở (airway resistance), một lần nữa là kết quả của việc thể tích phổi giảm, từ đó làm tăng nguy cơ đóng đường thở cũng như nguy cơ tiến triển các bệnh lý đường thở. Công hô hấp (work of breathing) và mức tiêu hao oxy của quá trình hô hấp (oxygen cost of breathing) đều tăng lên đáng kể ở những người béo phì.

Các Thể Tích Phổi Tĩnh

Hệ quả của những thay đổi này là hầu hết các thể tích phổi đều chịu ảnh hưởng, đặc biệt là ở tư thế nằm ngửa (supine position) khi sự gia tăng áp lực từ các tạng trong ổ bụng đẩy cơ hoành lên phía đầu (cephalad direction), làm giảm thể tích lồng ngực. Hình 15.2 tóm tắt các thay đổi về thể tích phổi tĩnh giữa tư thế đứng thẳng (ngồi) và tư thế nằm ngửa ở những người không béo phì và béo phì. Ngoại trừ thể tích khí lưu thông (tidal volume – Vt), béo phì làm suy giảm tất cả các thể tích phổi tĩnh, đặc biệt là thể tích dự trữ thở ra (expiratory reserve volume – ERV), và kéo theo đó là dung tích cặn chức năng (functional residual capacity – FRC) (Hình 15.2). Ở những người béo phì và không béo phì, độ giãn nở tĩnh (static compliance) tương đương nhau khi bác sĩ đo ở mức thể tích phổi bình thường, nhưng lại suy giảm ở cả mức thể tích phổi cao và thấp ở người béo phì. Do mức FRC thấp, những người béo phì phải hít thở ở một vị trí kém thuận lợi hơn trên đường cong độ giãn nở (compliance curve) của họ, điều này góp phần làm tăng công hô hấp.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ