Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sổ tay Lâm sàng Tiết niệu Penn, Ấn bản thứ 3. CHƯƠNG 4. NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU DƯỚI Ở NAM GIỚI

22 phút đọc

Sổ tay Lâm sàng Tiết niệu Penn, Ấn bản thứ 3
Penn Clinical Manual of Urology Third Edition – (C) 2025 Nhà Xuất Bản ELSEVIER
Biên tập: Thomas J. Guzzo, Robert C. Kovell, Justin B. Ziemba, Dana A. Weiss, Alan J. Wein
Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Lê Huy Ngọc, Ts.Bs. Lê Nhật Huy, BSCKII. Trần Trung Kiên


CHƯƠNG 4. NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU DƯỚI Ở NAM GIỚI

Lower urinary tract infection in males
Joseph F. Harryhill, MD, MSEd; Aseem Malhotra, MD; Hanna Jia, BA
Penn Clinical Manual of Urology, CHAPTER 4, 131-142.e1


Giới thiệu

Tỷ lệ mắc và dịch tễ học

Nhiễm trùng đường tiết niệu (Urinary tract infections – UTIs) dưới và các quá trình viêm không do vi khuẩn ở nam giới có thể liên quan đến bàng quang và tất cả các phần của đường sinh dục, chủ yếu là niệu đạo, tuyến tiền liệt, mào tinh hoàn và tinh hoàn. Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới là bệnh lý phổ biến, với nguy cơ mắc bệnh trong suốt cuộc đời là 12%. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, nhiễm trùng đường tiết niệu chiếm hơn 10 triệu lượt khám tại phòng khám và 2 đến 3 triệu lượt khám cấp cứu mỗi năm. Tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu đang gia tăng, do tình trạng kháng fluoroquinolone ngày càng tăng góp phần làm giảm hiệu quả của kháng sinh và tăng tỷ lệ “nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát”. Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới phải được điều trị thích hợp để ngăn ngừa các biến chứng như tổn thương đường tiết niệu trên, nhiễm khuẩn huyết và thậm chí có thể tử vong.

Đáng chú ý, đường tiết niệu dưới và hệ thống sinh dục có sự thông thương mở với nhau, và nhiễm trùng có thể lan từ thành phần này sang thành phần khác, ví dụ, từ tuyến tiền liệt sang mào tinh hoàn. Chương này sẽ tập trung vào viêm bàng quang do vi khuẩn, viêm tuyến tiền liệt, áp-xe tuyến tiền liệt, viêm mào tinh hoàn và viêm tinh hoàn.

Bệnh căn, sinh lý bệnh, tác nhân vi khuẩn

Nhiễm trùng đường tiết niệu ít phổ biến hơn ở nam giới do chiều dài của niệu đạo nam giới, cung cấp sự bảo vệ tương đối khỏi các tác nhân gây bệnh đi ngược dòng. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm trùng đường tiết niệu sau tuổi 50 là tương đương giữa nam và nữ. Nam giới lớn tuổi có nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu cao hơn do các yếu tố nguy cơ thuận lợi như làm trống bàng quang không hoàn toàn do tắc nghẽn đường ra bàng quang, rối loạn chức năng đi tiểu, túi thừa bàng quang, đặt ống thông tiểu (sonde) lưu và các can thiệp thủ thuật.

Các tác nhân gây bệnh phổ biến nhất gây nhiễm trùng đường tiết niệu là Escherichia coli gây bệnh niệu, Klebsiella pneumoniae, Enterococcus spp., Liên cầu khuẩn nhóm B (Group B Streptococcus), Proteus mirabilis, Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa), Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và Nấm Candida spp. Kiến thức về các tác nhân gây bệnh phổ biến nhất gây nhiễm trùng đường tiết niệu là rất quan trọng để lựa chọn kháng sinh thích hợp nhằm cải thiện kết quả điều trị.

Viêm bàng quang do vi khuẩn

Chẩn đoán

Viêm bàng quang (Cystitis) biểu hiện như một tập hợp các triệu chứng bao gồm tiểu buốt, tiểu nhiều lần, tiểu gấp, đau vùng trên xương mu và/hoặc tiểu máu. Đáng chú ý, nam giới cao tuổi có thể chỉ biểu hiện các triệu chứng mơ hồ, chẳng hạn như suy giảm thể trạng hoặc thay đổi trạng thái tinh thần.

Chẩn đoán bắt đầu bằng việc khai thác tiền sử và khám lâm sàng chi tiết, và được xác nhận bằng xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu kèm kháng sinh đồ. Kết quả xét nghiệm nước tiểu âm tính giả có thể xảy ra trong giai đoạn đầu của viêm bàng quang do vi khuẩn. Mặt khác, dương tính giả có thể xảy ra do nhiễm bẩn khi lấy mẫu nước tiểu. Mẫu nước tiểu giữa dòng sạch là phương pháp thu thập phổ biến nhất để nuôi cấy, nhưng có tỷ lệ nhiễm bẩn cao hơn so với thông niệu đạo hoặc chọc hút trên xương mu.

Các dấu hiệu xét nghiệm nước tiểu trong viêm bàng quang do vi khuẩn bao gồm que thử dương tính với nitrite (độ nhạy 50%, độ đặc hiệu >95%), dương tính với men leukocyte esterase (độ nhạy khoảng 80%, độ đặc hiệu khoảng 75%) và tiểu mủ trên kính hiển vi (nhiều hơn 6-10 bạch cầu trên mỗi vi trường độ phóng đại cao). Nếu que thử nước tiểu dương tính với cả nitrite và leukocyte esterase, độ đặc hiệu đạt 98%-100%, nhưng độ nhạy giảm xuống dưới 50%.

Nhiễm khuẩn hoạt động thường sẽ cho kết quả đếm khuẩn lạc lớn hơn 100 đơn vị hình thành khuẩn lạc/mL (CFU/mL). Nếu kết quả nuôi cấy dương tính với nhiều loại vi khuẩn, cần nghi ngờ mẫu bị nhiễm bẩn. Cuối cùng, độ nhạy cảm kháng sinh (kháng sinh đồ) được báo cáo để giúp lựa chọn liệu pháp kháng sinh thích hợp. Các can thiệp thủ thuật đường tiết niệu, nằm viện và điều trị gần đây bằng kháng sinh phổ rộng đều làm tăng nguy cơ nhiễm các vi khuẩn kháng thuốc.

Điều trị

Một vai trò quan trọng của bác sĩ tiết niệu là nhận biết khi nào người bệnh bị nhiễm trùng đường tiết niệu cần nhập viện.

Chỉ định nhập viện
Sự hiện diện của sốt, nhịp tim nhanh hoặc vẻ mặt nhiễm trùng nhiễm độc là những chỉ định nhập viện, và nên thực hiện chẩn đoán hình ảnh đường tiết niệu trên để loại trừ tắc nghẽn. Người bệnh cũng có thể cần nhập viện để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu nếu họ không thể dung nạp chất lỏng, bị suy giảm miễn dịch hoặc có bệnh lý nền đáng kể, đặc biệt là đái tháo đường.

Nhìn chung, điều trị kháng sinh cho viêm bàng quang do vi khuẩn nên được kê đơn từ 7 đến 10 ngày. Trong bối cảnh ngoại trú, các loại kháng sinh được kê đơn phổ biến nhất là trimethoprim-sulfamethoxazole (TMP-SMX) viên nén hàm lượng gấp đôi (double strength) uống hai lần mỗi ngày, ciprofloxacin 500 mg uống hai lần mỗi ngày và levofloxacin 250 đến 500 mg uống một lần mỗi ngày. Đối với người bệnh bị viêm bàng quang do nấm với Candida albicans (phổ biến hơn ở người bệnh đái tháo đường, suy giảm miễn dịch hoặc những người có đặt ống thông tiểu lưu), fluconazole đường uống 50 đến 100 mg hàng ngày được kê đơn trong 5 đến 7 ngày.

Ở nam giới dưới 50 tuổi không hoạt động tình dục, có thể chỉ định thêm các xét nghiệm để tìm kiếm bất thường tiềm ẩn của đường tiết niệu gây tắc nghẽn hoặc ứ đọng nước tiểu. Điều này có thể bao gồm nội soi bàng quang cũng như các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh để đánh giá đường tiết niệu trên và hình ảnh bàng quang sau khi đi tiểu.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ