Sổ tay Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ (Ấn bản 2026)
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Third Edition
Chủ biên: David Goldenberg, Bradley J. Goldstein
Dịch và Chú giải: THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM.
CHƯƠNG 2. CHĂM SÓC CHU PHẪU VÀ GÂY MÊ CHO BỆNH NHÂN TAI MŨI HỌNG – PHẪU THUẬT ĐẦU CỔ
Perioperative Care and Anesthesia for the Otolaryngology–Head and Neck Surgery Patient
Sonia Vaida; Wayne Pearce
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Chapter 2, 51-83
2.0 ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ TRÍ
Tất cả các hình thức phẫu thuật ở vùng đầu cổ đều đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng về việc quản lý đường thở, duy trì oxy hóa máu và thông khí với hình thức vô cảm phù hợp, đồng thời ngăn ngừa sự tích tụ nồng độ oxy trong phẫu trường khi có sử dụng dao điện hoặc laser.
GIẢI PHẪU ĐƯỜNG THỞ
Có hai lối vào sinh lý của đường thở: mũi và miệng. Nắp thanh thiệt (Epiglottis), nằm ở đáy lưỡi, ngăn cách Hầu họng (Oropharynx) với Hạ họng (Hypopharynx). Thanh quản (Larynx) bao gồm một cấu trúc sụn được nâng đỡ bởi các cơ và dây chằng.
Thần Kinh Chi Phối
Cảm giác phía trên nắp thanh thiệt được chi phối bởi dây thần kinh sinh ba (Trigeminal nerve – dây thần kinh sọ V, viết tắt là CN V) và dây thần kinh thiệt hầu (Glossopharyngeal nerve – CN IX); phía dưới nắp thanh thiệt được chi phối bởi các nhánh thanh quản trên và nhánh thanh quản quặt ngược của dây thần kinh lang thang (Vagus nerve – CN X).
- Niêm mạc mũi: được chi phối bởi nhánh hạch chân bướm khẩu cái thuộc nhánh giữa (nhánh hàm trên) của dây thần kinh sinh ba (CN V2).
- Thành sau họng (bao gồm lưỡi gà và amidan): được chi phối bởi các nhánh tiếp nối từ hạch chân bướm khẩu cái.
- Hầu họng và vùng trên thanh môn: được chi phối bởi dây thần kinh thiệt hầu; các nhánh của dây này bao gồm nhánh lưỡi, nhánh họng và nhánh amidan.
- Khí quản: được chi phối bởi dây thần kinh thanh quản quặt ngược (Recurrent laryngeal nerve).
- Thanh quản: nhận chi phối cảm giác và vận động từ dây thần kinh lang thang.
- Cảm giác: phía trên Dây thanh (Vocal folds), sự chi phối được cung cấp bởi nhánh trong của dây thần kinh thanh quản trên; phía dưới dây thanh, bởi dây thần kinh thanh quản quặt ngược.
- Vận động: tất cả các cơ được chi phối bởi dây thần kinh thanh quản quặt ngược ngoại trừ Cơ nhẫn giáp (Cricothyroid muscle), cơ này được chi phối bởi nhánh ngoài của dây thần kinh thanh quản trên.
DỤNG CỤ ĐƯỜNG THỞ
Canuyn Miệng Và Mũi (Oral And Nasal Airways)
Ở bệnh nhân đã được gây mê, sự mất trương lực đường thở cho phép lưỡi và nắp thanh thiệt chạm vào mô thành sau họng, dẫn đến tắc nghẽn. Một số thiết bị đường thở có thể được đặt vào mũi hoặc miệng để tạo lối đi cho không khí. Các thiết bị đường thở qua đường mũi (Nasal airways) tiềm ẩn nguy cơ Chảy máu mũi (Epistaxis) và nên tránh dùng ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông. Các thiết bị này cũng nên tránh ở những bệnh nhân bị Vỡ nền sọ (Basilar skull fractures) để ngăn ngừa sự xâm nhập vào nội sọ. Đường mũi thường được dung nạp tốt hơn nếu có chỉ định đặt thiết bị đường thở ở bệnh nhân được gây mê nông.
Mặt Nạ (Facemasks)
Mặt nạ được thiết kế để ôm sát đường viền và phù hợp với nhiều đặc điểm khuôn mặt khác nhau, với mục đích tạo ra một độ kín khí có khả năng cung cấp khí từ thiết bị gây mê.
Đèn Soi Thanh Quản (Laryngoscopes)
Các loại đèn soi thanh quản đặt nội khí quản thường được nhóm gây mê sử dụng nhất có lưỡi cong (Macintosh) hoặc thẳng (Miller) và thiết kế lưỡi mở. Đèn soi thanh quản có video (Video laryngoscopes) được trang bị một camera video nhỏ, một bó sợi quang hoặc một hệ thống lăng kính gắn ở đầu xa của lưỡi đèn, cho phép quan sát gián tiếp hình ảnh phóng to của các cấu trúc đường thở trên màn hình. Ngoài ra, có nhiều loại đèn soi thanh quản phẫu thuật có thể hữu ích cho việc đặt nội khí quản, chẳng hạn như đèn soi thanh quản Holinger hoặc Dedo.
Trao Đổi Khí Qua Đường Mũi Lưu Lượng Cao Làm Ấm Ẩm (THRIVE)
THRIVE (Transnasal Humidified Rapid-Insufflation Ventilatory Exchange) là một cơ chế sinh lý để oxy hóa và thông khí cho bệnh nhân đang được Gây mê toàn thân (General anesthesia) và giảm hoặc mất nỗ lực hô hấp nhưng không bị tắc nghẽn đường thở. Nó cho phép thông khí “ngừng thở” không cần ống do sự tương tác giữa dòng xoáy hỗn loạn trên thanh môn của oxy lưu lượng cao (70–90 L/phút) được làm ẩm 100% từ phía trên và dao động do tim của áp lực đường thở từ phía dưới. Sự tương tác này dẫn đến sự cuốn theo qua thanh môn của oxy 100%. Đủ lượng oxy đi vào khí quản (tương đương khoảng 4 L/phút) để cho phép duy trì tình trạng Ngừng thở (Apnea) trong một thời gian dài. THRIVE có một số lợi ích trong việc quản lý Đường thở khó (Difficult airway) trong phẫu thuật chia sẻ đường thở, chẳng hạn như cải thiện oxy hóa máu, giảm công thở trong quá trình đặt nội khí quản bằng ống soi mềm hoặc Mở khí quản tỉnh (Awake tracheostomy), và tăng thời gian ngừng thở an toàn trong khi soi thanh quản.
ĐÁNH GIÁ ĐƯỜNG THỞ
Một cuộc thăm khám đường thở toàn diện xem xét nhiều khía cạnh của đường thở. Điều cần thiết là phải lưu ý đến khả năng khó khăn trong việc hợp tác của bệnh nhân và dự đoán khó khăn khi thông khí bằng mặt nạ, đặt thiết bị trên thanh môn, đặt nội khí quản hoặc tiếp cận đường thở bằng phẫu thuật (Hình 2.1).
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ