Sổ tay Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ (Ấn bản 2026)
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Third Edition
Chủ biên: David Goldenberg, Bradley J. Goldstein
Dịch và Chú giải: THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM.
CHƯƠNG 4: MŨI XOANG
Rhinology
Ralph Abi Hachem
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Chapter 4, 178-221
4.0 Giải Phẫu Và Sinh Lý Mũi Và Các Xoang Cạnh Mũi
Mũi ngoài bao gồm tháp mũi (mỏm trán của xương hàm trên) cùng với các xương chính mũi tạo thành sống mũi và tiếp khớp với xương trán ở phía trên tại ấn đường (glabella). Phía dưới là các sụn mũi bên trên và sụn mũi bên dưới (sụn cánh mũi), góp phần tạo nên đầu mũi và van mũi (nasal valves) (Hình 4.1).
Giải phẫu mũi trong và xoang rất phức tạp và đa dạng. Niêm mạc mũi được cấu tạo bởi biểu mô hô hấp có lông chuyển, và biểu mô khứu giác tập trung gần mảnh sàng (cribriform plate) và cuốn mũi trên. Vách ngăn mũi ở đường giữa được cấu tạo bởi sụn tứ giác (quadrangular cartilage), mảnh thẳng đứng của xương sàng, xương lá mía (vomer), và mào hàm trên của xương khẩu cái, được bao phủ bởi lớp niêm mạc bên trên. Có bốn cặp xoang: xoang hàm, xoang trán, xoang sàng và xoang bướm (Hình 4.2). Thành ngoài hốc mũi bao gồm các cuốn mũi dưới, giữa và trên. Ống lệ tỳ đổ vào ngách mũi dưới. Các xoang trán, xoang sàng trước và xoang hàm dẫn lưu qua ngách mũi giữa. Các xoang sàng sau dẫn lưu qua ngách mũi trên. Các lỗ thông xoang bướm thường nằm ở phía trong so với cuốn mũi trên và dẫn lưu vào ngách bướm sàng. Về mặt lâm sàng, mối liên quan giữa các xoang cạnh mũi với các cấu trúc giải phẫu lân cận rất quan trọng vì nó liên quan đến khả năng lan rộng của nhiễm trùng hoặc tổn thương do thầy thuốc gây ra (iatrogenic injury). Cụ thể, trần sàng có thể là một xương cực mỏng dọc theo mảnh bên (lateral lamella) của mảnh sàng và chiều cao có thể thay đổi đáng kể; các cấu trúc nội sọ nằm ngay phía trên. Xương giấy (lamina papyracea) ngăn cách hốc mắt với các xoang sàng; sự lan rộng của nhiễm trùng vào hốc mắt được thảo luận trong Chương 4.1.2.
Xoang bướm được giới hạn bởi động mạch cảnh trong, thần kinh thị giác, xoang hang và hố yên; một tế bào sàng sau phát triển quá mức (tế bào Onodi) có thể gây nguy hiểm cho các cấu trúc quan trọng này. Tình trạng khuyết xương che phủ động mạch cảnh trong trong lòng xoang bướm tương đối phổ biến và cần được đánh giá thường quy trên phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) trước phẫu thuật. Xoang trán được giới hạn bởi hốc mắt và hố sọ trước, và cũng có thể là nguồn gốc lây lan của nhiễm trùng đường mũi. Tế bào Haller là một tế bào sàng trước phát triển vào trong sàn ổ mắt và có thể góp phần gây ra các vấn đề dẫn lưu xoang hàm. Các tế bào đê mũi (agger nasi cells) là các tế bào sàng trước phát triển lên phía trên và có thể góp phần gây ra các vấn đề dẫn lưu xoang trán.
Cung Cấp Máu
Có nguồn cung cấp máu phong phú từ động mạch cảnh ngoài và cảnh trong (Hình 4.3). Điểm mạch Kiesselbach (còn được gọi là vùng Little) ở vách ngăn trước cung cấp các nhánh nối nông. Các nhánh động mạch cảnh ngoài cung cấp máu cho mũi qua động mạch mặt ở bên ngoài và động mạch hàm trong ở bên trong, bao gồm cả động mạch bướm khẩu cái (sphenopalatine artery). Các nhánh động mạch cảnh trong được cung cấp qua động mạch mắt đến các động mạch sàng trước và sàng sau. Dẫn lưu tĩnh mạch xảy ra qua các tĩnh mạch mặt cũng như các tĩnh mạch mắt, các tĩnh mạch này có các kết nối nội sọ không có van với xoang hang và do đó liên quan đến sự lan truyền nhiễm trùng theo đường máu vào nội sọ. Chảy máu mũi được thảo luận trong Chương 4.1.5.

Hình 4.1 Khung xương mũi. 1. Ấn đường (Glabella). 2. Xương chính mũi. 3. Sụn mũi bên trên. 4. Bờ trên của sụn vách ngăn mũi. 5. Sụn mũi bên dưới. 6. Trụ trong của sụn mũi bên dưới.

Hình 4.2 Các xoang cạnh mũi: (a) lát cắt đứng ngang (coronal), (b) lát cắt đứng dọc (sagittal). 1. Xoang trán. 2. Xoang sàng. 3. Lỗ thông xoang hàm. 4. Hốc xoang hàm. 5. Hốc xoang bướm.
Thần Kinh
Cảm giác chung được cung cấp qua nhánh thứ nhất và thứ hai của dây thần kinh sinh ba. Quan trọng là, đầu mũi được chi phối bởi V1 (nhánh thứ nhất của thần kinh sinh ba). Do đó, trong các tổn thương do herpes liên quan đến đầu mũi, cần chỉ định đánh giá nhãn khoa để loại trừ herpes zoster ở mắt (dấu hiệu Hutchinson). Cảm giác đặc biệt (khứu giác) được cung cấp qua thần kinh khứu giác (dây thần kinh sọ số 1, CN I). Chi phối thần kinh tự chủ phức tạp được cung cấp cho niêm mạc qua hạch chân bướm khẩu cái (pterygopalatine ganglion), điều hòa trương lực vận mạch và sự bài tiết. Thần kinh Vidian chứa các sợi phó giao cảm trước hạch từ thần kinh đá lớn (từ CN VII) và các sợi giao cảm từ thần kinh đá sâu (từ hạch giao cảm cổ trên) và tạo synap tại hạch chân bướm khẩu cái trước khi chi phối niêm mạc mũi xoang.
Sinh Lý
Bảng 4.1 tóm tắt các xét nghiệm để đánh giá sinh lý mũi xoang. Làm ấm và làm ẩm không khí hít vào, chức năng khứu giác và chức năng miễn dịch đều là các khía cạnh của sinh lý mũi. Mũi và các xoang cạnh mũi đóng vai trò trong bảo vệ vật chủ. Nhìn chung, sự thanh thải nhầy lông chuyển (mucociliary clearance) là một đặc điểm chính. Các yếu tố cụ thể như immunoglobulin A tiết (sIgA), lactoferrin, lysozyme, cytokine và sự điều hòa phức tạp của các tế bào trung gian miễn dịch là rất quan trọng để duy trì chức năng xoang bình thường. Một cuộc thảo luận chi tiết về sinh lý mũi xoang nằm ngoài phạm vi cuốn sách này. Sự hiện diện của nhiễm trùng, viêm, dị ứng, khối u, hoặc các biến dạng do chấn thương, do thầy thuốc hoặc bẩm sinh đều có thể làm rối loạn sinh lý mũi xoang và phải được xem xét khi đánh giá bệnh nhân có các triệu chứng liên quan đến mũi.

Hình 4.3 Mạch máu hốc mũi. 1. Điểm mạch Kiesselbach. 2. Động mạch hàm trong. 3. Động mạch bướm khẩu cái. 4. Động mạch mắt. 5. Động mạch sàng trước và sàng sau. I-IV: các vùng được cấp máu bởi các động mạch đến mũi.
Bảng 4.1 Tóm Tắt Các Xét Nghiệm Đánh Giá Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Sinh Lý Mũi Xoang
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ