Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Tăng bạch cầu ưa axit

9 phút đọc
Tăng bạch cầu ưa axit số lượng ở máu ngoại vi > 500/mcL (> 0.5 × 109/L). Rất nhiều nguyên nhân và rối loạn liên quan nhưng thường đại diện cho phản ứng dị ứng hoặc nhiễm ký sinh trùng. Chứng tăng bạch cầu ưa axit có thể là phản ứng (thứ phát) hoặc biểu hiện ban đầu của chứng rối loạn huyết học. Chẩn đoán liên quan đến lựa chọn các xét nghiệm dựa trên định hướng lâm sàng. Điều trị theo nguyên nhân

Tăng bạch cầu ưa axit có các đặc điểm như một đáp ứng miễn dịch: ví dụ khi lần đầu nhiễm Trichinella spiralis chỉ tăng nhẹ bạch cầu ưa axit, nhưng khi phơi nhiễm lặp lại sẽ dẫn đến đáp ứng thứ phát tăng mạnh bạch cầu ưa aid. Dưỡng bào và bạch cầu ưa base sẽ giải phóng ra một số thành phần kích thích sản xuất bạch cầu ưa axit qua trung gian IgE. Các chất này bao gồm yếu tố hóa học ưa axit gây sốc phản vệ, leukotriene B4, phức hợp bổ thể (C5-C6-C7), và histamin (nồng độ thấp).

Phân nhóm tăng bạch cầu ưa axit

  • Nhẹ: 500 đến 1500/mcL (0,5 đến 1,5 × 109/L)

  • Trung bình: 1500 to 5000/mcL (1,5 to 5 × 109/L)

  • Nặng: > 5000/mcL (> 5 × 109/L)

Tăng bạch cầu ưa axit nhẹ không gây triệu chứng, nhưng khi ≥ 1500/mcL (> 1,5 × 109/L) có thể gây tổn thương cơ quan nội tạng nếu tình trạng kéo dài. Tổn thương cơ thường xảy ra do: viêm mô, phản ứng với cytokine và chemokine do bạch cầu ưa axit giải phóng, do các tế bào miễn dịch thâm nhập vào các mô. Mặc dù bất kỳ cơ quan nào cũng có thể bị tổn thương, nhưng gặp ở tim, phổi, lách, da và hệ thần kinh thường bị ảnh hưởng nhiểu hơn (về các biểu hiện, xem bảng Các bất thường ở bệnh nhân có hội chứng tăng bạch cầu ái toan).

Một số trường hợp bệnh nhân có tăng bạch càu ưa axit mức độ nặng (ví dụ, số lượng bạch cầu ái toan > 100.000/mcL [> 100 × 109/L]), thường là bệnh lơ xê mi dòng bạch cầu ưa axit, gây ra những biến chứng tắc mạch máu nhỏ do ngưng tập bạch cầu dẫn đến thiếu máu mô cục bộ và nhồi máu vi mạch. Các biểu hiện thường là thiếu oxy ở phổi, não (bệnh não, khó thở, suy hô hấp).

Chứng tăng bạch cầu ưa axit (Phết máu ngoại vi)
Chứng tăng bạch cầu ưa axit (Phết máu ngoại vi)

 

© SPRINGER SCIENCE+BUSINESS MEDIA

Hội chứng tăng bạch cầu ưa axit vô căn là tình trạng đặc trưng bởi sự tăng bạch cầu ưa axit máu ngoại vi ngoại vi với biểu hiện rối loạn chức năng các cơ quan liên quan trực tiếp đến tăng bạch cầu ưa axit ở những bệnh nhân không nhiễm ký sinh trùng, không dị ứng rối loạn tạo máu vô tính hoặc các nguyên nhân khác của tăng bạch cầu ưa axit.

Nguyên nhân của chứng tăng bạch cầu ưa axit

Tăng bạch cầu ưa axit có thể

  • Nguyên phát: Tiên phát: tăng sinh đơn dòng bạch cầu ưa axit liên quan đến rối loạn huyết học như lơ xê mi, và bệnh tăng sinh tủy ác tính

  • Thứ phát: Thứ phát: do những nguyên nhân không liên quan đến huyết học (xem bảng Các rối loạn quan trọng và điều trị liên quan đến tăng bạch cầu ái toan)

  • Vô căn: không xác định được nguyên nhân

Nguyên nhân phổ biến nhất bạch cầu ái toan ở Hoa Kỳ là

  • Dị ứng hoặc các rối loạn dị ứng (điển hình là hô hấp hoặc da liễu)

Các nguyên nhân phổ biến khác bao gồm

  • Nhiễm trùng (thường là ký sinh trùng)

  • Khối u (u bệnh máu hoặc u đặc, lành tính hoặc ác tính)

Hầu như mọi cuộc xâm nhập của ký sinh trùng vào các mô đều có thể tạo ra bạch cầu ưa axit, nhưng động vật nguyên sinh (trùng amip) và metazoa không xâm lấn thường không tạo ra bạch cầu đó.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ