Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

26 phút đọc

ĐẶT VẤN ĐỀ.

Tầm quan trọng và dịch tễ bệnh:

Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh lý khá phổ biến, trong đó thoát vị đĩa đệm cột sống cổ đứng hàng thứ hai sau thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi lao động nên ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội.

Theo Kokubun (Nhật Bản) thì thấy có 1,54 bệnh nhân/100 nghìn dân bị bệnh thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cổ cần can thiệp phẫu thuật.

Đặc điểm giải phẫu cột sống cổ liên quan đến bệnh:

Khớp mỏm móc đốt sống (khớp Luschka):

Mặt trên các thân đốt sống từ CIII – CVII có hai mỏm móc hay mấu bán nguyệt ôm lấy góc dưới của hai bên thân đốt phía trên hình thành khớp mỏm móc đốt sống. Các khớp này có vai trò giữ không cho đĩa đệm lệch sang hai bên.

Sự tưới máu của tủy cổ chủ yếu là do động mạch đốt sống cổ chạy trong lỗ ngang từ CVI  trở lên (cấp máu một phần qua động mạch rễ) còn chủ yếu là nguồn động mạch tủy sống trước (1 động mạch) và hai động mạch tủy sống sau (2 động mạch này đều bắt nguồn từ đốt tủy sống hai bên đoạn trong sọ).

Động mạch tủy sống trước cấp máu cho 2/3 trước tủy, động mạch tủy sống sau cấp máu cho 1/3 tủy còn lại. Khi TVĐĐ tủy trung tâm sẽ gây chèn ép vào động mạch tủy sống trước gây thiếu máu cục bộ vùng tủy tương ứng tạo lên hội chứng chèn ép tủy trên lâm sàng.

Thần kinh thực vật liên quan: từ các hạch giao cảm cổ trên, giữa, dưới và ngực trên (hạch sao) có các nhánh thần kinh giao cảm đi vào các dây thần kinh cổ từ C – C4 (hạch giao cảm cao), C5 – C6 (hạch giao cảm giữa), C– D2 (hạch giao cảm dưới). Từ các hạch này lại có nhánh đi tới tim, các động mạch và các cơ quan nội tạng khác. Do vậy khi TVĐĐ cổ, ngoài triệu chứng tủy, rễ còn có những triệu chứng của thần kinh thực vật.

Dây chằng dọc trước phủ kín mặt trước các thân đốt sống và đĩa đệm rất dày và khỏe, TVĐĐ cổ ít xảy ra ở phía trước. Dây chằng dọc sau thưa, mỏng, đây là điểm yếu, nơi dễ xảy ra TVĐĐ sau bên.

PHÂN LOẠI TVĐĐ CỔ.

Có một số phân loại chung:

Phân loại theo liên quan đĩa đệm thoát vị với tủy sống và rễ thần kinh: theo Rothman P.H và Marval J.P 1975 có 3 loại:

TVĐĐ trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây hội chứng bệnh lý tủy là chính.

TVĐĐ cạnh trung tâm: chèn ép cả tủy và rễ thần kinh gây hội chứng bệnh lý tủy kết hợp bệnh lý rễ thần kinh.

TVĐĐ cạnh bên: còn gọi là TVĐĐ lỗ ghép, gây chèn ép rễ thần kinh là chủ yếu.

Phân loại theo bệnh sinh – bệnh căn:

Yumashev G.S; Furman M.E (1916); Yamano Y. (1985); Rothman R.H (1975) chia ra:

TVĐĐ cứng (hard disc herniation): TVĐĐ hay mỏ xương hoặc đĩa đệm cốt hoá đè ép vào tủy rễ. Bệnh lý loại này mang tính chất mãn tính, TVĐĐ có thoái hoá đi kèm xảy ra chủ yếu ở người nhiều tuổi.

TVĐĐ mềm (soft disc herniation): không hoặc có ít thoái hoá đi kèm, thường do TVĐĐ cấp tính sau chấn thương gây nên (thợ lặn, ngã, vật nặng rơi, tai nạn giao thông…).

Phân loại đĩa đệm thoát vị liên quan với dây chằng dọc sau:

Wagner O.H. (1995) chia ra:

TVĐĐ nằm dưới dây chằng dọc sau.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ