Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng. CHƯƠNG 14: UNG THƯ PHỔI TẾ BÀO NHỎ

74 phút đọc

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng (Lung Cancer: An Evidence-Based Approach to Multidisciplinary Management)
(C) 2025 Nhà xuất bản ELSEVIER – Nguyên tác bởi: Erin Alexis Gillaspie, Leora Horn, Amanda S. Cass
Dịch & Chú giải: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG 
Xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 14: UNG THƯ PHỔI TẾ BÀO NHỎ

Sushma Jonna, MD; Gabriella B. Montenegro,MD; Stephen V. Liu, MD

 

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

• Trên thực tế, ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer – SCLC) được phân loại bằng cách sử dụng hệ thống của Nhóm Nghiên cứu Phổi thuộc Cục Cựu chiến binh Hoa Kỳ (Veterans’ Administration Lung Study Group) thành giai đoạn khu trú (limited-stage) nếu tất cả các tổn thương có thể được bao trọn trong một trường chiếu xạ dung nạp được, hoặc giai đoạn lan tràn (extensive-stage).

• Về mặt hệ gen, ung thư phổi tế bào nhỏ đặc trưng bởi sự mất chức năng gần như phổ biến của các gen ức chế khối u RB1 và TP53, đồng thời thiếu các đột biến gen có thể điều trị nhắm đích (actionable genomic alterations).

• Ung thư phổi tế bào nhỏ có đặc điểm là đáp ứng ban đầu tốt với hóa trị hoặc hóa xạ trị nhưng sau đó thường tái phát, với tỷ lệ đáp ứng cao nhưng thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (progression-free survival) bị hạn chế.

• Tiêu chuẩn điều trị đối với ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú là xạ trị lồng ngực triệt căn (definitive thoracic radiation) được thực hiện đồng thời với hóa trị phối hợp cisplatin và etoposide.

• Hóa trị phác đồ platinum kết hợp etoposide từng là tiêu chuẩn chăm sóc đối với ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn trong nhiều thập kỷ, cho đến khi các thử nghiệm ngẫu nhiên chứng minh rằng việc bổ sung kháng thể kháng PD-L1 vào phác đồ hóa trị bước một (atezolizumab hoặc durvalumab) mang lại sự cải thiện đáng kể về thời gian sống thêm.

Giới Thiệu

Ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer – SCLC) là một phân tuýp có tỷ lệ tử vong rất cao của bệnh ung thư phổi. Bệnh nằm ở vị trí tận cùng trong phổ các bệnh lý ung thư thần kinh nội tiết (neuroendocrine cancers) và theo kinh điển có chỉ số tăng sinh tế bào cao, đặc trưng bởi sự lan tràn sớm và thời gian sống thêm hạn chế. Một phần do đặc tính sinh học xâm lấn mạnh mẽ của khối u, phẫu thuật phần lớn là một chiến lược không mang lại hiệu quả. Các chiến lược điều trị triệt căn chủ yếu bao gồm xạ trị và hóa trị, nhưng ngay cả đối với nhóm thiểu số những bệnh nhân may mắn được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, khả năng sống thêm dài hạn với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ là không phổ biến. Trái ngược với phân tuýp phổ biến hơn là ung thư phổi không tế bào nhỏ (non-small cell lung cancer – NSCLC), các phác đồ quản lý ung thư phổi tế bào nhỏ lại gần như dậm chân tại chỗ một cách đáng ngạc nhiên, với rất ít thay đổi đối với liệu pháp tiêu chuẩn trong suốt vài thập kỷ qua. Tuy nhiên gần đây, những tiến bộ quan trọng đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về đặc tính sinh học phức tạp của ung thư phổi tế bào nhỏ. Các chiến lược điều trị mới, bao gồm việc kết hợp sớm liệu pháp miễn dịch (immunotherapy), đang mang lại những cải thiện được mong đợi từ lâu về thời gian sống thêm, mặc dù tiên lượng tổng thể vẫn còn kém với nhiều khoảng trống cần cải thiện.

Dịch Tễ Học Và Yếu Tố Nguy Cơ

Có một mối liên hệ không thể phủ nhận giữa ung thư phổi tế bào nhỏ và việc sử dụng thuốc lá; bệnh lý này rất hiếm gặp ở những người không hút thuốc, nhóm đối tượng này chỉ chiếm dưới 5% số ca mắc mới ung thư phổi tế bào nhỏ. Do đó, tỷ lệ mắc bệnh thay đổi đáng kể theo khu vực địa lý, phản ánh chặt chẽ đặc điểm nhân khẩu học của hành vi sử dụng thuốc lá. Tại Hoa Kỳ nói chung, tỷ lệ mắc ung thư phổi tế bào nhỏ đang có xu hướng giảm. Vào năm 1986, 17% các trường hợp ung thư phổi mắc mới được phân loại là ung thư phổi tế bào nhỏ và tỷ lệ này tăng đều đặn, đạt đỉnh vào năm 1993 khi bệnh chiếm tới 25% các chẩn đoán ung thư phổi. Con số này sau đó đã giảm và chững lại ở mức khoảng 15%, được cho là do sự thay đổi trong thói quen hút thuốc. Tương tự, đặc điểm nhân khẩu học của bệnh cũng chuyển dịch theo xu hướng hút thuốc. Năm 1973, chỉ có 28% các ca bệnh được chẩn đoán ở phụ nữ. Tuy nhiên đến năm 2002, phụ nữ có khả năng mắc bệnh ngang bằng nam giới, với 50% các ca mắc mới là bệnh nhân nữ. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các ca ung thư phổi, ung thư phổi tế bào nhỏ vẫn là một gánh nặng y tế công cộng cấp bách vì tỷ lệ sống thêm của căn bệnh này thấp hơn đáng kể so với ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) hoặc ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinoma), cả ở Hoa Kỳ cũng như trên toàn cầu. Do tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá vẫn còn cao trên toàn thế giới, ung thư phổi tế bào nhỏ hứa hẹn sẽ tiếp tục là một vấn đề cực kỳ đáng quan tâm trong những năm tới.

Biểu Hiện Lâm Sàng Và Phân Loại

Triệu Chứng Khởi Phát

Ung thư phổi tế bào nhỏ thường bắt nguồn gần các đường thở trung tâm nhưng lan tràn rất nhanh chóng. Khoảng 90% các chẩn đoán mắc mới ung thư phổi tế bào nhỏ là bệnh ở giai đoạn III hoặc IV. Hầu hết bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ đều có triệu chứng tại thời điểm chẩn đoán. Các triệu chứng có thể phát sinh do sự phát triển của khối u tại vùng lân cận hoặc do di căn xa. Sự phát triển nhanh chóng ở trung tâm thường dẫn đến tắc nghẽn phế quản với các biểu hiện như khó thở, ho, ho ra máu hoặc viêm phổi tái diễn. Vì hầu hết bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ đều có tiền sử hút thuốc và có thể mắc kèm các bệnh lý như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease), các triệu chứng hô hấp có thể bị quy nhầm cho tình trạng khí phế thũng (emphysema) đang diễn biến xấu đi, thường làm chậm trễ quá trình chẩn đoán. Sự chèn ép hệ thống mạch máu có thể dẫn đến hội chứng tĩnh mạch chủ trên (superior vena cava syndrome), trong đó tĩnh mạch hồi lưu bị cản trở bởi khối u, dẫn đến sưng nề vùng mặt, cổ và chi trên, và trong những trường hợp nghiêm trọng, gây phù gai thị (papilledema) và phù não. Các triệu chứng khác liên quan đến sự phát triển của u nguyên phát bao gồm khàn tiếng do chèn ép dây thần kinh thanh quản quặt ngược và nuốt nghẹn do chèn ép thực quản.

Hầu hết bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ sẽ có di căn tại thời điểm chẩn đoán và có thể xuất hiện các triệu chứng liên quan đến các tổn thương di căn xa đó (Hình 14.1). Điều này có thể bao gồm đau hoặc gãy xương bệnh lý do liên quan đến xương. Di căn gan, tùy thuộc vào mức độ, có thể dẫn đến đau bụng, bất thường trong kết quả xét nghiệm máu hoặc vàng da tắc mật. Di căn não tương đối phổ biến trong ung thư phổi tế bào nhỏ, hiện diện tại thời điểm chẩn đoán ở khoảng 10% bệnh nhân với nguy cơ tích lũy lên tới 80% sau 2 năm. Triệu chứng thay đổi tùy thuộc vào kích thước và vị trí, nhưng các khối di căn có thể gây đau đầu, buồn nôn, rối loạn thị lực, thay đổi tính cách hoặc co giật.

Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn sớm không phổ biến nhưng có thể được phát hiện tình cờ. Các nghiên cứu sàng lọc có rất ít tác động đến ung thư phổi tế bào nhỏ. Thử nghiệm Sàng lọc Phổi Quốc gia (National Lung Screening Trial) đã chứng minh việc sàng lọc dựa trên chụp cắt lớp vi tính (computed tomography – CT) mang lại sự sụt giảm 20% tỷ lệ tử vong do ung thư phổi, nhưng lợi ích sống thêm này chủ yếu được thúc đẩy bởi nhóm ung thư phổi không tế bào nhỏ. Trong số 143 ca ung thư phổi tế bào nhỏ được xác định, chỉ có 49 ca (34,2%)

Hình 14.1 Hình ảnh chẩn đoán của ung thư phổi tế bào nhỏ tại thời điểm biểu hiện và sau điều trị ở một bệnh nhân nhập viện với triệu chứng khó thở, thở rít và hội chứng tĩnh mạch chủ trên. (A) X-quang cho thấy một khối u thùy dưới phổi trái (dấu sao) với nhiều hạch bạch huyết trung thất phì đại (các mũi tên). (B) Trên chụp cắt lớp vi tính (CT), tĩnh mạch chủ trên và khí quản bị chèn ép (mũi tên) và nhiều hạch bạch huyết phì đại ở vùng cạnh động mạch chủ (dấu sao) và cả hai vùng cạnh khí quản (các đầu mũi tên). (C) Trên CT, có thể quan sát thấy di căn tuyến thượng thận trái (dấu sao). (D) Hình ảnh cộng hưởng từ cho thấy di căn nhiều đốt sống lan tỏa với biểu hiện chèn ép tủy ở ngang mức T9-T10 (đầu mũi tên). Sau 2 chu kỳ dùng etoposide và cisplatin, ghi nhận một đáp ứng một phần trên X-quang (E) và CT (F), với sự co rút 20% ở khối u nguyên phát và giảm kích thước của các hạch bạch huyết trung thất. (Từ Tổng quan Lâm sàng. Ung thư Phổi (Tế bào nhỏ), Elsevier Point of Care (xem chi tiết). Cập nhật ngày 23 tháng 4 năm 2021. Bản quyền Elsevier BV.)

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ