Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Ung Thư Tuyến Giáp

16 phút đọc
  • ĐẠI CƯƠNG

Ung thư tuyến giáp là ung thư tuyến nội tiết thường gặp nhất, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Bệnh tiến triển chậm và có tuổi thọ kéo dài từ 15 đến 20 năm.

Tại Mỹ ung thư tuyến giáp có khoảng 2 – 4 ca mới/100.000 dân/năm, tỷ lệ nam/nữ là 1/2,7 và tỉ lệ tử vong hằng năm là 0,2 – 2,8/ 100.000 dân. 

Tại Việt Nam, ung thư biểu mô tuyến giáp đứng hàng thứ 6 trong các loại ung thư ở phụ nữ với tần suất mắc theo tuổi ở nữ giới là 5,6/100,000 dân, ở nam giới là 1,8/100,000 dân. Ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa chiếm khoảng 90% các bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến giáp và thường có tiên lượng tốt do bệnh tiến triển chậm, có thể phẫu thuật triệt căn và đáp ứng với điều trị I131.

  • CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Tiền sử có xạ trị vùng cổ lúc nhỏ vì bệnh lành tính hoặc bị nhiễm phóng xạ (ví dụ sau tai nạn hạt nhân Chernobyl tỉ lệ ung thư tuyến giáp của cư dân vùng này tăng lên) làm gia tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp biệt hoá tốt với nguy cơ từ 12 đến 25 năm sau tiếp xúc.

Yếu tố gia đình: Thường gặp ở những gia đình có bệnh đa bướu nội tiết, hội chứng Pendred, hội chứng Gardner và hội chứng Cowden. Đặc biệt thường gặp ở những gia đình có người thân mắc ung thư tuyến giáp, nhất là ung thư thể tủy.

Tiền sử phơi nhiễm hexachlorobenzene và tetracholorodibenzo-p-dioxin.

Các đột biến về gen sinh u và gen ức chế sinh u trong ung thư tuyến giáp.

Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như: Bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm tỷ lệ cao ở độ tuổi 10-20 tuổi và từ 40-60 tuổi. Tỷ lệ mắc ở nữ giới cao gấp 2-3 lần so với nam giới. Tại những khu vực có bệnh bướu cổ địa phương thì tỉ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn các khu vực khác

  • BỆNH HỌC.
  •  Lâm sàng.

Đa số ung thư tuyến giáp tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Thường phát hiện bệnh khi đi kiểm tra sức khỏe định kì hoặc khi xuất hiện những triệu chứng tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn gây khó thở và không ăn uống được hoặc do khối u hoại tử, vỡ loét.

Triệu chứng sớm

  • Phát hiện khối u vùng cổ: Thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. Khối u vùng cổ to dần, di động theo nhịp nuốt, có thể phát hiện một u hoặc nhiều u và có thể nằm ở cả 2 thùy tuyến giáp. Khi thăm khám thấy khối u có bề mặt gồ ghề, mật độ chắc.
  • Hạch cổ: Có thể phát hiện đồng thời với khối u hay là phát hiện trước khi sờ thấy nhân giáp. Hạch thường phát hiện cùng bên với khối u. Tuy nhiên triệu chứng này khó phân biệt với khối u lành tính, vì vậy khi phát hiện hạch cổ cùng bên với khối u thì cần phải đi khám để chẩn đoán xác định ung thư.

Triệu chứng muộn

  • Khối u: Khối lớn, xâm lấn ra trước, ra sau, lên góc hàm hoặc thòng xuống trung thất (khám lâm sàng không sờ thấy được khối u). Bề mặt khối u gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc, có chỗ mềm. Đặc biệt khi khối u dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ, di động kém. Có khi khối u xâm lấn da vùng cổ gây vỡ, loét,chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
  • Khàn tiếng, khó thở, nuốt khó, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối u phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở ung thư thể không biệt hóa.
  • Cảm giác căng tức, bó chặt vùng cổ: Là triệu chứng thường gặp, đau lan lên góc hàm và mang tai cùng bên do khối u to chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
  • Hạch to dọc vùng cổ (dọc 2 bên khí quản, dọc cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn…)
  • Cận lâm sàng

2.1. Siêu âm tuyến giáp

Siêu âm tuyến giáp hiện nay là một phương tiện chẩn đoán thường quy và có độ chính xác cao để chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp. Siêu âm có ưu điểm như rẻ tiền, không độc hại, an toàn và rất hiệu quả trong việc đánh giá cấu trúc của tuyến giáp. Siêu âm còn khảo sát được những khối u không sờ thấy trên lâm sàng, xác định được bản chất khối u đặc hay nang, thể tích và trọng lượng của khối u và tuyến giáp. Ngoài ra siêu âm ngày nay còn được áp dụng nhiều để chọc hút tế bào nhân giáp bằng kim nhỏ (FNA). Các dấu hiệu của một nhân giáp ác tính nghi ngờ trên siêu âm gồm: tăng sinh mạch máu ở trung tâm, khối u giảm âm hoặc hồi ăm, bờ không đều, có vôi hóa bên trong.

2.2. Chụp xạ hình tuyến giáp

Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ. Hình ảnh nhân lạnh trên xạ hình tuyến giáp nghi ngờ ung thư tuy nhiên nó không đặc hiệu. Nhân đẳng xạ hiếm gặp ung thư giáp. Cần kết hợp với siêu âm để chẩn đoán. Xạ hình tuyến giáp có hạn chế là độc hại phóng xạ cao, không kinh tế và độ ly giải hình ảnh kém.

2.3. Chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ tuyến giáp

Đây là hai phương tiện để đánh giá sự lan rộng trong ung thư tuyến giáp vào cấu trúc lân cận và đánh giá sự di căn hạch.

Xác định vị trí, hình dạng, kích thước của khối u tuyến giáp

Xác định mức độ chèn ép, xâm lấn…của khối u với các cơ quan xung quanh như khí quản, thực quản, các mạch máu, sự di căn hạch…

2.4. Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA)

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ