ĐẠI CƯƠNG:
Bất kỳ một viêm lan toả hay khu trú nào của viêm niêm mạc dạ dày (bao gồm những thay đổi về màu sắc bề mặt và tiết dịch của niêm mạc) đều có thể mô tả là viêm dạ dày. Quá trình viêm sẽ gây nên những thay đổi kiến trúc và rối loạn chức năng của dạ dày so với bình thường.
Sự phát minh ra những ống soi mềm với các phương tiện sinh thiết, nội soi. Sự tiến bộ về nghiên cứu dịch vị và các xét nghiệm tổ chức học niêm mạc dạ dày đã đóng góp nhiều trong việc phân loại bệnh lí này với bệnh lí khác của niêm mạc dạ dày, thực tổn cũng như cơ năng.
Mối quan hệ giữa viêm dạ dày cấp và dạ dày mạn chưa rõ ràng lắm. Trong viêm dạ dày cấp, tổn thương thường được phục hồi phần lớn trong vài ngày. Có tác giả cho rằng viêm dạ cấp có thể chuyển thành mạn do cơ chế tự miễn (Taylo) bằng sự phát hiện thấy kháng thể kháng tế bào thành. Tuy nhiên, trên thực nghiệm lại khó tái tạo viêm dạ dày mạn bằng chất độc hoặc tiêm niêm mạc dạ dày đồng loại.
Sinh lí bệnh học
Niêm mạc dạ dày có nhiều nếp nhăn do cơ niêm và lớp cơ chính danh co cứng, phần nào do lu lượng máu. Nếp nhăn là một tổ chức chức năng hơn là giải phẫu. Giữa các nếp nhăn là những chỗ lõm gọi là hố của dạ dày, nơi các tuyến của dạ dày đổ ra.
Những yếu tố bảo vệ (Barier) của niêm mạc dạ dày – tá tràng, gồm: Lớp chất nhầy và Bicacbonat phủ lên lớp niêm mạc bề mặt đó và sự cung cấp máu cho nó.
Những yếu tố tấn công vào niêm mạc dạ dày – tá tràng gồm các tác nhân độc hại (yếu tố ngoại sinh) hoặc các yếu tố gây nhiễm khuẩn niêm mạc (yếu tố nội sinh) các yếu tố gây tiêu huỷ (do HCl và Pepin).
Sở dĩ niêm mạc dạ dày vẫn tồn tại được và làm tròn nhiệm vụ tiêu hoá của mình là sự cân bằng giữa hai quá trình bảo vệ và tiêu huỷ tấn công.
Quá trình viêm cũng như loét niêm mạc dạ dày là kết quả của sự tấn công của “Những yếu tố tấn công” qua “ Hàng rào phòng ngự ” gây nên tình trạng mất cân bằng giữa hai quá trình “bảo vệ” và “tấn công”. Ngoài ra còn có sự tham gia của yếu tố miễn dịch, vấn đề này được đề ra trong những năm gần đây do phát hiện thấy nhiều kháng thể kháng tế bào bìa ở những bệnh nhân bị viêm dạ dày: 60% bệnh nhân bị viêm dạ dày thể teo, 90% các bệnh nhân bị thiếu máu Biermer bao giờ cũng kết hợp với một viêm dạ dày teo vô toan tuyệt đối, trong khi đó chỉ thấy có từ 2-16% ở người thường. Một mặt khác ở những người bị các bệnh tự miễn nh viêm tuyến giáp người ta cũng thấy có đến 30% mang kháng thể này và viêm dạ dày mạn cũng thường hay kết hợp với các bệnh nói trên. Do đó có khuynh hướng coi viêm dạ dày mạn là một bệnh tự miễn.
Giải phẫu bệnh học, mô học, hình ảnh nội soi dạ dày và phân loại
Hiện nay, người ta tạm thời phân hai loại: viêm dạ dày cấp và viêm dạ dày mạn.
Viêm dạ dày cấp:
Có hai loại tổn thương cơ bản.
Viêm dạ dày cấp, long: Nổi bật là hiện tượng xung huyết, xuất huyết, niêm mạc phù nề.
Soi dạ dày: Có một phần hoặc toàn thể niêm mạc dạ dày đỏ rực, bóng láng, có những đám nhầy dầy và lỏng, các nếp niêm mạc phù nề, niêm mạc kém bền vững, dễ xuất huyết (chấm xuất huyết, ban xuất huyết) và vết trợt.
Viêm dạ dày cấp, chợt, loét nông: Nổi bật là hiện tượng mất tổ chức. Biểu hiện về tổ chức học có 3 đặc điểm:
Tróc biểu mô mặt ở cổ tuyến
Xuất huyết ở cổ tuyến
Xuất huyết ở Lamina propria của tuyến, lan toả.
Soi dạ dày: Trên nền xung huyết phù nề có những chỗ mất tổ chức thường ở phần dưới thân vị, hang vị, đôi khi có vết nứt kẽ dài ngoằn ngoèo chạy dọc rãnh hoặc cắt ngang qua niêm mạc. Đôi khi là dạng loét trợt (aphte) loét dài hẹp, dễ xuất huyết.
Viêm dạ dày mãn:
Có 2 loại
Viêm dạ dày mạn tuyến đáy – thân vị:
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ