(Créatine phosphokinase et ses Isoenzymes / Creatine Phosphokinase (CPKJ Total and Creatine kinase Isoenzymes (CPK-BB, CPK-MM, CPK-MB])
Creatin phosphokinase (CK hay CPK) là một enzym xúc tác phản ứng chuyển đổi qua lại giữa ATP và creatin phosphat: Creatin + ATP <->Creatin – phosphat + ADP.
Vì vậy, CPK đóng vai trò chủ chốt trong kiểm soát dòng cung cấp năng lượng cho các mô khác nhau trong cơ thể, đặc biệt ở mô cơ.
CPK là enzym được thấy chủ yếu ở cơ tim, cơ vân và với một hàm lượng ít hơn ở mô não. Trong điều kiện bình thường, huyết thanh người chứa chủ yếu CPK dưới dạng MM. CPK-MB chiếm khoảng 5% CPK toàn phần và CPK-BB chỉ được thấy với một lượng không đáng kể.
Xác đinh hoạt tính CPK là một XN hữu ích trong quy trình chẩn đoán các bệnh lý cơ vân (Vd: loạn dưỡng cơ), nhồi máu cơ tim và bệnh lý mạch máu não. Tất cả các quá trình bệnh lý tác động tới các cơ quan này đều có thể là nguyên nhân gây tăng hoạt độ CPK toàn phần.
Nhờ kỹ thuật điện di hay sắc kỷ (chromatographie) có thể tách biệt CPK thành 3 loại isoenzym khác biệt
- CPK BB (CK,) được thấy trong não và cơ trơn của phổi.
- CPK MB (CK) khu trú chủ yếu trong cơ tim.
- CPK MM (CK) được thấy chủ yếu trong các cơ vân.
Trong nhồi máu cơ tim, tăng CPK thường xảy ra trước khi tăng các transaminase và LDH. Hoạt độ CPK toàn phần điển hình sẽ tăng ngay từ giờ thứ 4 sau khi bị nhồi máu (4-8 giờ), với mức đình xảy ra giữa giờ thứ 12 – 36 sau khi bị nhồi máu, Hoạt độ CPK thường tăng cao trong khoảng 2 – 3 ngày và trở lại giá trị bình thường vào khoảng ngày thứ 4. Như vậy, CPK là một trong những enzym tim đầu tiên tăng lên sau khi bị nhồi máu cơ tim cấp. Mặc dù hoạt độ CPK toàn phần có thể được sử dụng như một test chẩn đoán với NMCT cấp (nhất là khi kết hợp cùng với CPK-MB) song hiện tại nhiều cơ sở điều trị chuyên khoa đã thay thế xét nghiệm này bằng troponin I hoặc T do tinh đặc hiệu với cơ tim cao hơn so với xét nghiệm xác định hoạt độ CPK.
CPK-MB (phần isoenzym liên quan với cơ tim của CPK) là một enzym Có trọng lượng phân tử 84 kDa đại diện cho 40% các CPK có mặt trong mô cơ tim. Cũng như CPK toàn phần, hoạt độ CPK MB tăng lên song song với CPK toàn phần với giá trị thu được thể hiện ít nhất 10% CPK toàn phần (tỷ lệ % này thường đạt tới giá trị 20 – 30%) CPK-MB thường bắt đầu tăng 4 – 6 giờ sau khi bắt đầu bị nhồi máu song không luôn tăng ở tất cả các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim tới khoảng 12 giờ sau khi bị nhồi máu. Tình trạng tăng này trở về giá trị nền trong vòng 36 – 48h trong khi tình trạng tăng hoạt độ troponin huyết thanh có thể tiếp diễn kéo dài từ 10 – 14 ngày. Điều này ngụ ý là không thể sử dụng CPK-MB để chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp ở giai đoạn muộn song có thể được sử dụng như đã được xác nhận để đánh giá mức độ lan rộng và mức độ nặng của nhồi máu. Hơn nữa, tăng lại hoạt độ CPK sau 4 ngày bị nhồi máu cơ tim cấp sau khi giá trị enzym này đã giảm đặt nghi vấn BN có thể bị nhồi máu cơ tim tái phát.
CPK BB hiếm khi được gặp và enzym này đã được mô tả như một marker đối với ung thư biểu mô tuyến của tuyến tiền liệt, V, buồng trứng, đại tràng và đường tiêu hóa, cũng như đối với ung thư biểu mô tế bào không biệt hóa của phổi. Tăng hoạt độ CPK BB cũng đã được báo cáo gặp khi có tình trạng sốc nặng và/hoặc hạ thân nhiệt, nhồi máu ruột, chấn thương não, đột quy, đồng thời enzym này còn được coi như một chỉ dấu di truyền ở một số gia đình bị tăng thân nhiệt ác tính và gia tăng song hành với hoạt độ CPK MB Ở các bệnh nhân bị bệnh cơ do rượu (alcoholic myopathy)
- Chỉ dấu sinh học với độ đặc hiệu tốt đối với tình trạng tổn thương hoặc bệnh lý của cơ tim.
- XN hỗ trợ thường được chọn để chẩn đoán các tình trạng rối loạn cơ vân.
- XN các isoenzym của CPK (CPK-MM) có thể được chỉ định để phát hiện các thể macro (macro forms) của CK: Giúp chẩn đoán các bệnh cơ vân, khi kết hợp với XN aldolase.
- CPK-MB được sử dụng rộng rãi như một chi dấu sinh học sớm để đánh giá tình trạng tổn thương cơ tim.
Xét nghiệm được tiến hành trên huyết thanh. Không nhất thiết yêu cầu BN cần phải nhịn ăn trước khi lấy máu làm XN.
XN thường được chỉ định làm cấp cứu và được làm nhắc lại 3 – 4 lần trong vòng 4 – 24h ở các BN có bệnh cảnh cơn đau ngực kéo dài.
Chú ý
- Cần tránh gây tan máu do nồng độ cao của hemoglobin có thể làm XN định lượng CPK không chính xác
- Không được tiêm bắp trong vòng 1h trước khi lấy máu XN.
– CPK toàn phần
- Na: 40 – 150 U/L hay 0,67- 2,50 ukat/L. .
- Nam: 38 – 174 U/L hay 0,63 – 2,90 ukat/L.
– CPK MB: <10 U/L
– Điện di các CPK:
- CPK BB <1% (Hiểm khi được gặp trong điều kiện bình thường)
- CPK MB < 5%
- CPK MM > 94%.
Các nguyên nhân chính thường gặp là:
– Các tình trạng hoại tử hoặc viêm của cơ tim: Chỉ số CPI thường > 4%. Các rối loạn được liệt kê trong phần CK-MB.
- Nhồi máu cơ tim.
- Sau tiến hành khử rung tim.
– Sau phẫu thuật tim. Các tình trạng hoại tử, viêm hoặc thoái hóa cấp của cơ vân:
- Các rối loạn được liệt kê trong phần CK-MB (chỉ số CPK thường < 4%).
- Loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy), loạn dưỡng tăng trương lực cơ (myotonic dystrophy).
- Xơ cột bên teo cơ (amyotrophie lateral sclerosis) (> 40% các trường hợp).
- Viêm da và cơ (dermatomyosis), viêm đa cơ (polymyositis): gặp ở 70% các trường hợp với mức tăng trung bình là > 20 lần giới hạn bình thường cao).
- Sau tiến hành đánh sốc điện.
- Bỏng nhiệt và bỏng điện (giá trị CPK toàn phần thưởng cao hơn so với khi bị NMCT cấp).
- Tiêu cơ vận (rhabsomyolysis) nhất là do chấn thương và gắng sức quá mức: Mức tăng có thể tới > 1000 lần giới hạn bình thường trên.
- Gắng sức thể lực quá mức và kéo dài (như được gặp ở vận động viên chạy marathon): Tình trạng tăng bắt đầu xuất hiện sau hoạt động thể lực 3h, đạt mức đỉnh sau 8-16h và thường trở lại mức bình thường sau 48h.
- Cơn co giật kéo dài (status epilepticus).
- Tình trạng sáng rung (delirium tremens).
- Tăng thân nhiệt ác tính.
- Hạ thân nhiệt.
– Do thuốc và hóa chất:
- Cocain, alcohol.
- Emetin (Ipeca) (Vd: gây nôn trong điều trị chứng ăn uống vô do).
- Độc tính của hóa chất: Các chế phẩm có vòng benzen (Vd: xylen) gây khử cực màng của tế bào cơ và gây thâm lậu các enzym có trọng lượng phân tử thấp làm nồng độ CPK toàn phần tăng rất cao (100% là CPK-MM với tăng LDH gấp 3 – 5 lần giá trị bình thường).
– Bệnh tai biến mạch máu não cấp: Gặp ở 50% số bệnh nhân bị nhồi máu não lan rộng. Nồng độ đạt tới mức cao nhất vào ngày thứ ba với tình trạng tăng có thể không xảy ra trong vòng 2 ngày đầu. Mức độ tăng thường thấp hơn so với trong NMCT song tình trạng tăng này kéo dài hơn và giá trị CPK toàn phần chỉ trở về bình thường sau 14 ngày. Các BN có mức tăng CPK > 300 IU đi kèm với tỷ lệ tử vong cao. Tăng hoạt độ CPK huyết thanh trong nhồi máu não có thể gây che dấu chẩn đoán NMCT đi kèm.
– Các nguyên nhân khác:
- Loạn thần cấp.
- Nghiện rượu.
- Chấn thương não.
- Giảm kali máu và chứng liệt chu kỳ giảm kali máu có tình gia đình.
- Suy chức năng tuyến giáp và phù niêm.
- Chuyển dạ đẻ và thường xảy ra trong những tuần cuối của thai kỳ.
- Bệnh McArdle.
- Tiêm bắp nhiều lần: Đôi khi xảy ra và thường ở mức nhẹ (mức tăng thay đổi từ 2 – 6 lần giá trị bình thường) Ghi CPK trở lại bình thường 48 giờ sau khi ngừng tiến và hiện khi tác động tới phân CPK-MB, LDH-1 và AST
Các nguyên nhân chính thường gặp là:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ