(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)
Chương 18: Chăm sóc thai kỳ giai đoạn sớm
Early pregnancy care
Ian Symonds
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 18, 287-300
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong chương này, bạn sẽ có thể:
Tiêu chí kiến thức
Năng lực lâm sàng
Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp
|
Chảy máu trong thai kỳ giai đoạn sớm
Chảy máu âm đạo xảy ra ở khoảng 25% các trường hợp mang thai trước 20 tuần. Đây là một nguyên nhân chính gây lo lắng cho tất cả phụ nữ, đặc biệt là những người đã từng bị mất thai trước đó, và có thể là triệu chứng khởi phát của các tình trạng đe dọa tính mạng như thai ngoài tử cung. Chảy máu trong thai kỳ luôn phải được coi là bất thường và cần được thăm dò một cách thích hợp.
Một lượng máu nhỏ có thể xuất hiện khi phôi nang làm tổ trong nội mạc tử cung từ 5-7 ngày sau khi thụ tinh (máu báo thai). Nếu điều này xảy ra vào thời điểm dự kiến có kinh nguyệt, nó có thể bị nhầm lẫn với một kỳ kinh và do đó ảnh hưởng đến việc tính tuổi thai dựa trên ngày kinh cuối cùng.
Các nguyên nhân phổ biến gây chảy máu trong giai đoạn sớm của thai kỳ là sẩy thai, thai ngoài tử cung và các tổn thương lành tính ở đường sinh dục dưới. Ít phổ biến hơn, đây có thể là triệu chứng khởi phát của thai trứng hoặc ung thư cổ tử cung.
Sẩy thai
Thuật ngữ y khoa được khuyến nghị cho việc mất thai dưới 24 tuần là sẩy thai (miscarriage). Ở một số quốc gia, chẳng hạn như Hoa Kỳ, thuật ngữ này được sử dụng để mô tả việc mất thai trước khi thai có khả năng sống hoặc thai nặng dưới 500g. Ở một số tiểu bang ở Úc, thuật ngữ này được sử dụng cho bất kỳ trường hợp mất thai nào dưới 20 tuần. Hầu hết các ca sẩy thai xảy ra trong tháng thứ hai hoặc thứ ba và chiếm 10-20% các trường hợp mang thai trên lâm sàng. Người ta cho rằng một tỷ lệ cao hơn nhiều các trường hợp mang thai bị sẩy ở giai đoạn sớm nếu chẩn đoán dựa trên sự hiện diện của nồng độ beta-subunit human chorionic gonadotrophin (hCG) trong huyết tương ở mức có ý nghĩa.
Nguyên nhân của sẩy thai
Trong nhiều trường hợp, không thể tìm thấy nguyên nhân rõ ràng cho sẩy thai. Điều quan trọng là phải xác định được nhóm này, vì tiên lượng cho lần mang thai sau thường tốt hơn mức trung bình.
Yếu tố dịch tễ học
Tuổi mẹ và số lần sẩy thai trước đó là các yếu tố nguy cơ độc lập cho việc sẩy thai tiếp theo. Nguy cơ sẩy thai tăng từ 11% ở phụ nữ tuổi 20-24 lên hơn 50% ở phụ nữ thụ thai trên 45 tuổi. Điều này một phần liên quan đến nguy cơ gia tăng các bất thường nhiễm sắc thể (xem phần sau) trong hợp tử và một phần do sự suy giảm số lượng và chất lượng của các noãn bào còn lại của người phụ nữ. Nguy cơ sẩy thai cũng cao hơn ở các cặp vợ chồng mà người chồng trên 40 tuổi.
Bất thường di truyền
Bất thường nhiễm sắc thể là một nguyên nhân phổ biến của sẩy thai sớm và có thể dẫn đến thất bại trong sự phát triển của phôi, với sự hình thành túi thai mà không có sự phát triển của phôi hoặc với sự tống xuất một thai nhi bất thường sau đó. Trong bất kỳ hình thức sẩy thai nào, có tới 57% sản phẩm thụ thai sẽ có kiểu nhân (karyotype) bất thường. Các khuyết tật nhiễm sắc thể phổ biến nhất là tam nhiễm sắc thể thường (autosomal trisomies), chiếm một nửa số bất thường, trong khi đa bội (polyploidy) và đơn nhiễm X (monosomy X) mỗi loại chiếm thêm 20%. Mặc dù bất thường nhiễm sắc thể phổ biến trong sẩy thai đơn lẻ, bất thường nhiễm sắc thể của cha mẹ chỉ hiện diện ở 2-5% các cặp vợ chồng bị sẩy thai liên tiếp. Đây thường là các chuyển đoạn tương hỗ cân bằng (balance reciprocal translocation), chuyển đoạn Robertsonian (Robertsonian translocation) hoặc thể khảm (mosaicism).
Yếu tố nội tiết
Sự sản xuất progesterone chủ yếu phụ thuộc vào hoàng thể trong 8 tuần đầu của thai kỳ, và chức năng này sau đó được nhau thai đảm nhận. Progesterone rất cần thiết để duy trì thai kỳ, và sự suy yếu sớm của hoàng thể có thể dẫn đến sẩy thai. Tuy nhiên, rất khó để chắc chắn khi nào nồng độ progesterone trong huyết tương giảm là nguyên nhân chính gây sẩy thai và khi nào chúng là chỉ số của một thai kỳ đang suy yếu. Tỷ lệ mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) cao hơn đáng kể ở phụ nữ bị sẩy thai liên tiếp so với dân số chung. Phụ nữ bị đái tháo đường kiểm soát kém và bệnh tuyến giáp không được điều trị có nguy cơ sẩy thai và dị tật thai nhi cao hơn.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ