(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)
Chương 20: Ung thư Phụ khoa
Gynaecological oncology
Hextan Y.S. Ngan; Karen K.L. Chan
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 20, 328-351
MỤC TIÊU HỌC TẬP
| Sau khi học xong chương này, bạn sẽ có thể:
Tiêu chí kiến thức
Năng lực lâm sàng
Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp
|
Các tổn thương ở âm hộ
Tân sinh trong biểu mô âm hộ
Tân sinh trong biểu mô âm hộ (VIN) là một tình trạng đặc trưng bởi sự mất định hướng và mất cấu trúc kiến trúc của biểu mô, lan rộng hết toàn bộ độ dày của biểu mô. Trước đây, Tổ chức Y tế Thế giới đã phân loại VIN thành VIN-1, 2 và 3 dựa trên mức độ biểu mô bình thường bị thay thế bởi các tế bào loạn sản bất thường. Tuy nhiên, do VIN-1 chủ yếu tương ứng với condyloma không phải là tổn thương tiền ung thư, thuật ngữ VIN-1 đã bị loại bỏ, và VIN hiện nay đề cập đến VIN-2 và 3 trước đây trong phân loại mới nhất của Hiệp hội Quốc tế về Nghiên cứu Bệnh Âm hộ.
VIN được phân thành VIN thông thường (VIN cổ điển hoặc bệnh Bowen) và VIN biệt hóa (d-VIN) dựa trên các đặc điểm bệnh lý riêng biệt (Hộp 20.1). VIN thông thường thường xảy ra ở phụ nữ trẻ từ 30 đến 50 tuổi và có liên quan đến hút thuốc lá và nhiễm virus papilloma ở người (HPV). Bệnh nhân có thể không có triệu chứng, hoặc họ có thể phàn nàn về ngứa, đau, tiểu buốt và loét. Các tổn thương có thể có màu trắng, hồng hoặc có sắc tố dưới dạng mảng hoặc sẩn. Chúng thường được tìm thấy ở môi lớn, môi bé và mép sau âm hộ; 3-4% VIN thông thường có thể tiến triển thành bệnh xâm lấn.
d-VIN xảy ra ở phụ nữ sau mãn kinh và chỉ chiếm 2-10% tổng số các trường hợp VIN. Nó liên quan đến tăng sản vảy, lichen xơ hóa và lichen đơn dạng mạn tính và được coi là tiền thân của hầu hết các ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) sừng hóa xâm lấn âm tính với HPV. Bệnh nhân có các triệu chứng tương tự như lichen xơ hóa. Có thể tìm thấy các nốt, mảng hoặc vết loét màu xám, trắng, đỏ. Nó được tìm thấy trong tới 70-80% các trường hợp ung thư lân cận và có tiềm năng ác tính cao hơn VIN thông thường. Do đó, điều quan trọng là phải loại trừ bệnh ác tính khi phát hiện d-VIN.
Hộp 20.1 Tân sinh trong biểu mô âm hộ (VIN)
|
Không giống như VIN phát sinh từ biểu mô vảy, bệnh Paget ngoài vú phát sinh từ biểu mô tuyến apocrine. Hình dạng của các tổn thương rất đa dạng, nhưng chúng có dạng sẩn và nổi gồ lên; có thể có màu trắng, xám, đỏ xỉn hoặc các sắc thái khác nhau của màu nâu; và có thể khu trú hoặc lan rộng (Hình 20.1). Những tình trạng này rất hiếm, với tỷ lệ mắc là 0,53/100.000, và thường xảy ra ở phụ nữ trên 50 tuổi. Bệnh Paget có liên quan đến ung thư biểu mô tuyến bên dưới hoặc bệnh ác tính nguyên phát ở nơi khác trong 20% trường hợp, chủ yếu là vú và ruột.

Hình 20.1 Bệnh Paget ở âm hộ.
Xử trí
Điều quan trọng là phải xác định chẩn đoán bằng sinh thiết (Hình 20.2) và tìm kiếm tân sinh trong biểu mô ở các vị trí khác như cổ tử cung và âm đạo, đặc biệt khi phát hiện VIN thông thường. Điều trị VIN thông thường bao gồm imiquimod, một chất điều hòa miễn dịch, liệu pháp laser và cắt bỏ bề mặt tổn thương da. Không có vai trò của điều trị nội khoa đối với d-VIN, và phẫu thuật cắt bỏ có xu hướng triệt để hơn so với VIN thông thường. Tái phát là phổ biến, và vì có nguy cơ tiến triển ác tính, đặc biệt là ở d-VIN, việc theo dõi lâu dài là cần thiết.

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ