Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán phân biệt các triệu chứng thường gặp, ấn bản thứ 7. Chương 30: Đau họng

24 phút đọc

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT CÁC TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP, ẤN BẢN THỨ 7
(
Differential Diagnosis of Common Complaints, Seventh Edition)

Tác giả: Seller, Robert H., MD – Nhà xuất bản: Elsevier
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


Chương 30: Đau họng

Sore Throat
Robert H. Seller, MD; Andrew B. Symons, MD, MS
Differential Diagnosis of Common Complaints, 30, 359-368

 


Chương này định nghĩa đau họng (sore throat) là cảm giác đau ở họng khi nghỉ ngơi và thường nặng hơn khi nuốt. Các nguyên nhân phổ biến nhất (70%–80%) gây đau họng không có loét ở họng bao gồm viêm họng do virus (viral pharyngitis) (rhinovirus, adenovirus, influenza, virus hợp bào hô hấp, virus coxsackie, herpesvirus, và virus Epstein-Barr), viêm họng do vi khuẩn (bacterial pharyngitis) và viêm amidan (tonsillitis), viêm họng dị ứng (allergic pharyngitis), viêm họng thứ phát sau viêm xoang, và bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (infectious mononucleosis). Các nguyên nhân phổ biến gây đau họng có loét ở họng bao gồm viêm họng mụn nước (herpangina), viêm miệng áp-tơ (aphthous stomatitis), herpes simplex, nhiễm trùng fusospirochetal, nhiễm nấm candida (candidiasis), herpes zoster, và bệnh thủy đậu (chickenpox – varicella). Các vết loét giang mai nguyên phát và thứ phát ít phổ biến hơn thường không gây đau.

Viêm họng là một vấn đề nan giải vì nó cực kỳ phổ biến (chiếm 1.1% các lượt khám tại các cơ sở chăm sóc ban đầu) và vì khó có thể chẩn đoán chính xác. Chi phí hàng năm cho các xét nghiệm và thuốc men cho bệnh nhân đau họng là khoảng 300 triệu đô la. Mặc dù viêm họng do virus và liên cầu khuẩn (bao gồm cả tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn) là nguyên nhân phổ biến nhất gây đau họng, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay cả với các kỹ thuật chẩn đoán cẩn thận, chỉ có thể xác định được nguyên nhân chính xác ở khoảng 50% bệnh nhân. Mycoplasma pneumoniae ngày càng được công nhận là một nguyên nhân gây viêm họng ở trẻ em.

Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời viêm họng do liên cầu khuẩn (streptococcal pharyngitis) (liên cầu khuẩn tan huyết beta nhóm A – group A β-hemolytic streptococcus – GABHS) là rất cần thiết để giảm sự lây lan cho những người tiếp xúc gần; điều trị cũng ngăn ngừa sốt thấp khớp cấp. Ngoài ra, điều trị kháng sinh kịp thời giúp rút ngắn quá trình lâm sàng và giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các xét nghiệm sàng lọc nhanh (xét nghiệm phát hiện kháng nguyên nhanh – rapid antigen detection testing – RADT) đối với kháng nguyên liên cầu khuẩn rất hữu ích ở những bệnh nhân có dấu hiệu và triệu chứng của viêm họng cấp. Do sự cải tiến của RADT, việc cấy dịch họng là không cần thiết trừ khi kết quả RADT âm tính (ở trẻ em), các triệu chứng không cải thiện, hoặc bệnh nhân không đáp ứng với kháng sinh thích hợp. Tuyên bố này không có nghĩa là cấy dịch họng không có giá trị, nhưng nó nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá lâm sàng hợp lý trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân đau họng (Bảng 30.1).

Bảng 30.1. Thang điểm Centor

Triệu chứng Điểm Tổng điểm Xác suất sau xét nghiệm (%)
Amidan có xuất tiết 1 0 2,5
Hạch cổ trước ấn đau 1 1 6,5
Không có ho 1 2 15,4
Tiền sử sốt (> 38,0°C) 1 3 31,6
4 55,7

Bệnh nhân nhận được một điểm cho sự hiện diện hoặc vắng mặt của các dấu hiệu và triệu chứng. Mỗi bệnh nhân được gán một điểm số từ 0 đến 4 tương ứng với một xác suất sau xét nghiệm.

Cơ địa bệnh nhân

Viêm họng do liên cầu khuẩn (Streptococcal pharyngitis) phổ biến nhất ở bệnh nhân dưới 25 tuổi, đặc biệt là những người từ 5 đến 15 tuổi. Tương tự, viêm họng mụn nước (herpangina), herpes simplex, nhiễm trùng fusospirochetal, và nhiễm nấm candida (candidiasis) phổ biến hơn ở trẻ em. Là một nguyên nhân của viêm họng, bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (infectious mononucleosis) phổ biến nhất ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi. Bệnh này cũng xảy ra, mặc dù ít thường xuyên hơn, ở bệnh nhân trên 60 tuổi. Đáng chú ý là 70% bệnh nhân cao tuổi bị tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn không bị viêm họng, nổi hạch, hoặc lách to.

Chlamydia trachomatis và Neisseria gonorrhoeae biểu hiện dưới dạng các triệu chứng ở hầu họng đang trở thành những nguyên nhân phổ biến hơn của viêm họng nhưng thường không được nhận ra. Neisseria đã được cấy từ họng ở 10% bệnh nhân bị lậu ở hậu môn sinh dục. Trong số những người có kết quả cấy dương tính, hầu hết không có triệu chứng ở họng. Bệnh này phổ biến hơn ở những người có quan hệ tình dục bằng miệng-sinh dục. Đồng tính nam có tỷ lệ nhiễm lậu ở hầu họng cao hơn các nhóm khác.

Các tổn thương loét và mụn nước phổ biến ở họng bao gồm viêm miệng áp-tơ tái phát (recurrent aphthous stomatitis), herpes zoster, herpes simplex, nhiễm trùng fusospirochetal, và nhiễm nấm candida (candidiasis) (đặc biệt nếu bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch hoặc đang dùng kháng sinh (). Loét miệng có thể xảy ra với sốt định kỳ và hội chứng PFAPA (sốt định kỳ, áp-tơ, viêm họng, hạch cổ), một bệnh hiếm gặp ở trẻ em. Mặc dù hiếm gặp, các tổn thương giang mai nguyên phát và thứ phát được thấy ở người lớn. Chúng nên được nghi ngờ nếu một tổn thương không đau và các triệu chứng đi kèm thông thường của nhiễm trùng đường hô hấp trên (URI) không có.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ