Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
CHƯƠNG 49. CÁC VẤN ĐỀ NGOẠI KHOA CẤP TÍNH Ở TRẺ EM
Acute surgical problems in children
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 49, 687-699
Giới thiệu
Một trẻ sơ sinh (neonate) là em bé mới sinh dưới 28 ngày tuổi, trẻ nhũ nhi (infant) là trẻ dưới 1 tuổi, trẻ em (child) là từ 1-17 tuổi và người trưởng thành là từ 18 tuổi trở lên. Tại Vương quốc Anh, thực hành lâm sàng nhi khoa nói chung chỉ bao gồm trẻ em đến 16 tuổi. Ngày càng có nhiều trẻ trong độ tuổi từ 13 đến 18 được quản lý tại các đơn vị vị thành niên, nơi các nhu cầu của nhóm này có thể được đáp ứng tốt hơn. Nhiều trẻ em được điều trị bởi các bác sĩ ngoại khoa tổng quát có quan tâm đến nhi khoa, nhưng ở nhiều quốc gia, hầu hết các vấn đề phẫu thuật ở trẻ nhũ nhi, các bất thường bẩm sinh lớn (major) và các khối u ác tính được quản lý tại các trung tâm khu vực bởi các bác sĩ phẫu thuật nhi (paediatric surgeons). Phạm vi các bệnh lý ngoại khoa ở trẻ em khác biệt so với người lớn và cũng thay đổi giữa các nhóm tuổi, đặc biệt là đối với các trường hợp cấp cứu. Các cấp cứu nhi khoa được xem xét ở đây theo nhóm tuổi, cụ thể là: trẻ sơ sinh (vài ngày đầu đời, bao gồm cả trẻ sinh non), trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ (đến khoảng 2 tuổi) và trẻ lớn (đến tuổi dậy thì). Trong giai đoạn dậy thì, các rối loạn này hòa nhập với các bệnh lý của người trưởng thành.
Sự khác biệt về sinh lý giữa trẻ nhũ nhi và người lớn
Sự chăm sóc ngoại khoa nhi thành công phụ thuộc vào việc quản lý các khác biệt sinh lý giữa trẻ sơ sinh, trẻ nhũ nhi, trẻ em và người lớn. Ví dụ, tỷ lệ chuyển hóa cơ bản rất cao ở trẻ sơ sinh, với nhu cầu oxy là 5-8 mL/kg mỗi phút. Chỉ số này giảm ở trẻ lớn và người lớn xuống còn 2 mL/kg mỗi phút. Thể tích máu ở một em bé là 80 mL cho mỗi kg trọng lượng cơ thể, một tỷ lệ thể tích trên trọng lượng cao hơn nhiều so với người lớn, nhưng tổng thể tích máu lại rất thấp (thường khoảng 250 mL ở một trẻ sơ sinh đủ tháng), vì vậy kỹ thuật mổ cần phải tỉ mỉ để giảm thiểu mất máu. Ở người lớn, việc mất 100 mL là không đáng kể nhưng có thể đe dọa tính mạng đối với một trẻ nhỏ; ngay cả những lượng mất nhỏ cũng cần được đo lường chính xác và bù lại trong quá trình phẫu thuật nếu cần thiết.
Vấn đề về dịch và điện giải
Thiếu hụt dịch và mất cân bằng điện giải xảy ra nhanh chóng vì mỗi khoang cơ thể có thể tích dịch rất nhỏ. Ngoài ra, nhu cầu dịch ở nhi khoa tương đối lớn hơn so với người lớn vì thận có khả năng cô đặc kém hơn, do đó lượng nước tiểu bắt buộc thải ra lớn hơn. Lượng dịch mất qua phân cao hơn, đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi. Trong các trường hợp tiêu chảy nặng, tình trạng mất nước và rối loạn điện giải tiến triển nhanh chóng. Các dấu hiệu thiếu hụt dịch cũng khác so với người lớn. Trẻ nhỏ bị thiếu dịch thường li bì hoặc lơ mơ và thậm chí có thể hôn mê. Mắt và thóp trước (anterior fontanelle) có thể bị trũng, nhưng độ đàn hồi da (skin turgor) thường không bị mất. Nhịp tim nhanh là dấu hiệu thường gặp, nhưng tụt huyết áp là dấu hiệu muộn do các cơ chế bù trừ. Lượng nước tiểu có khả năng thấp; lượng xuất bình thường nên đạt ít nhất 1 mL/kg cân nặng mỗi giờ.
Đường huyết
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ