Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng (Lung Cancer: An Evidence-Based Approach to Multidisciplinary Management)
(C) 2025 Nhà xuất bản ELSEVIER – Nguyên tác bởi: Erin Alexis Gillaspie, Leora Horn, Amanda S. Cass
Dịch & Chú giải: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM
CHƯƠNG 14: UNG THƯ PHỔI TẾ BÀO NHỎ
Sushma Jonna, MD; Gabriella B. Montenegro,MD; Stephen V. Liu, MD
|
ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG |
|---|
| • Trên thực tế, ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer – SCLC) được phân loại bằng cách sử dụng hệ thống của Nhóm Nghiên cứu Phổi thuộc Cục Cựu chiến binh Hoa Kỳ (Veterans’ Administration Lung Study Group) thành giai đoạn khu trú (limited-stage) nếu tất cả các tổn thương có thể được bao trọn trong một trường chiếu xạ dung nạp được, hoặc giai đoạn lan tràn (extensive-stage).
• Về mặt hệ gen, ung thư phổi tế bào nhỏ đặc trưng bởi sự mất chức năng gần như phổ biến của các gen ức chế khối u RB1 và TP53, đồng thời thiếu các đột biến gen có thể điều trị nhắm đích (actionable genomic alterations). • Ung thư phổi tế bào nhỏ có đặc điểm là đáp ứng ban đầu tốt với hóa trị hoặc hóa xạ trị nhưng sau đó thường tái phát, với tỷ lệ đáp ứng cao nhưng thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (progression-free survival) bị hạn chế. • Tiêu chuẩn điều trị đối với ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú là xạ trị lồng ngực triệt căn (definitive thoracic radiation) được thực hiện đồng thời với hóa trị phối hợp cisplatin và etoposide. • Hóa trị phác đồ platinum kết hợp etoposide từng là tiêu chuẩn chăm sóc đối với ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan tràn trong nhiều thập kỷ, cho đến khi các thử nghiệm ngẫu nhiên chứng minh rằng việc bổ sung kháng thể kháng PD-L1 vào phác đồ hóa trị bước một (atezolizumab hoặc durvalumab) mang lại sự cải thiện đáng kể về thời gian sống thêm. |
Giới Thiệu
Ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer – SCLC) là một phân tuýp có tỷ lệ tử vong rất cao của bệnh ung thư phổi. Bệnh nằm ở vị trí tận cùng trong phổ các bệnh lý ung thư thần kinh nội tiết (neuroendocrine cancers) và theo kinh điển có chỉ số tăng sinh tế bào cao, đặc trưng bởi sự lan tràn sớm và thời gian sống thêm hạn chế. Một phần do đặc tính sinh học xâm lấn mạnh mẽ của khối u, phẫu thuật phần lớn là một chiến lược không mang lại hiệu quả. Các chiến lược điều trị triệt căn chủ yếu bao gồm xạ trị và hóa trị, nhưng ngay cả đối với nhóm thiểu số những bệnh nhân may mắn được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, khả năng sống thêm dài hạn với bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ là không phổ biến. Trái ngược với phân tuýp phổ biến hơn là ung thư phổi không tế bào nhỏ (non-small cell lung cancer – NSCLC), các phác đồ quản lý ung thư phổi tế bào nhỏ lại gần như dậm chân tại chỗ một cách đáng ngạc nhiên, với rất ít thay đổi đối với liệu pháp tiêu chuẩn trong suốt vài thập kỷ qua. Tuy nhiên gần đây, những tiến bộ quan trọng đã cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về đặc tính sinh học phức tạp của ung thư phổi tế bào nhỏ. Các chiến lược điều trị mới, bao gồm việc kết hợp sớm liệu pháp miễn dịch (immunotherapy), đang mang lại những cải thiện được mong đợi từ lâu về thời gian sống thêm, mặc dù tiên lượng tổng thể vẫn còn kém với nhiều khoảng trống cần cải thiện.
Dịch Tễ Học Và Yếu Tố Nguy Cơ
Có một mối liên hệ không thể phủ nhận giữa ung thư phổi tế bào nhỏ và việc sử dụng thuốc lá; bệnh lý này rất hiếm gặp ở những người không hút thuốc, nhóm đối tượng này chỉ chiếm dưới 5% số ca mắc mới ung thư phổi tế bào nhỏ. Do đó, tỷ lệ mắc bệnh thay đổi đáng kể theo khu vực địa lý, phản ánh chặt chẽ đặc điểm nhân khẩu học của hành vi sử dụng thuốc lá. Tại Hoa Kỳ nói chung, tỷ lệ mắc ung thư phổi tế bào nhỏ đang có xu hướng giảm. Vào năm 1986, 17% các trường hợp ung thư phổi mắc mới được phân loại là ung thư phổi tế bào nhỏ và tỷ lệ này tăng đều đặn, đạt đỉnh vào năm 1993 khi bệnh chiếm tới 25% các chẩn đoán ung thư phổi. Con số này sau đó đã giảm và chững lại ở mức khoảng 15%, được cho là do sự thay đổi trong thói quen hút thuốc. Tương tự, đặc điểm nhân khẩu học của bệnh cũng chuyển dịch theo xu hướng hút thuốc. Năm 1973, chỉ có 28% các ca bệnh được chẩn đoán ở phụ nữ. Tuy nhiên đến năm 2002, phụ nữ có khả năng mắc bệnh ngang bằng nam giới, với 50% các ca mắc mới là bệnh nhân nữ. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các ca ung thư phổi, ung thư phổi tế bào nhỏ vẫn là một gánh nặng y tế công cộng cấp bách vì tỷ lệ sống thêm của căn bệnh này thấp hơn đáng kể so với ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) hoặc ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinoma), cả ở Hoa Kỳ cũng như trên toàn cầu. Do tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá vẫn còn cao trên toàn thế giới, ung thư phổi tế bào nhỏ hứa hẹn sẽ tiếp tục là một vấn đề cực kỳ đáng quan tâm trong những năm tới.
Biểu Hiện Lâm Sàng Và Phân Loại
Triệu Chứng Khởi Phát
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ