CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals. Dịch & chú giải: BS. LÊ ĐÌNH SÁNG.
Bản dịch được chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.
CHƯƠNG 30. CHỨNG NGƯNG THỞ LÚC NGỦ TRUNG ƯƠNG VÀ RỐI LOẠN GIẢM THÔNG KHÍ LIÊN QUAN ĐẾN GIẤC NGỦ
Central sleep apnea and sleep-related hypoventilation disorders
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM
Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 30, 609-654
GIỚI THIỆU
Chương này trình bày về chẩn đoán và điều trị chứng ngưng thở khi ngủ trung ương (central sleep apnea) và các rối loạn giảm thông khí liên quan đến giấc ngủ (sleep-related hypoventilation disorders). Các hội chứng ngưng thở trung ương bao gồm một nhóm đa dạng các rối loạn liên quan đến sự xuất hiện của cơn ngưng thở trung ương trong khi ngủ. Ở nhiều rối loạn ngưng thở trung ương, áp suất riêng phần carbon dioxide động mạch ban ngày (PaCO2) ở mức bình thường hoặc thấp. Ngược lại, trong các hội chứng giảm thông khí liên quan đến giấc ngủ, PaCO2 tăng cao trong khi ngủ hoặc trong cả lúc ngủ lẫn lúc thức. Nhiều bệnh nhân bị giảm thông khí về đêm có thể tích khí lưu thông (tidal volume) và/hoặc nhịp thở không đủ, kèm theo tương đối ít các cơn ngưng thở trung ương riêng biệt. Tuy nhiên, việc trình bày chung về bệnh nhân mắc chứng ngưng thở trung ương và các hội chứng giảm thông khí trong cùng một phần là rất hữu ích vì chúng có nhiều khía cạnh tương đồng về sinh lý bệnh học (pathophysiology) và phương pháp điều trị. Hội chứng giảm thông khí béo phì (obesity hypoventilation syndrome) được trình bày cùng với chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn (obstructive sleep apnea) trong Chương 18 và 21. Các quy tắc chấm điểm đối với cơn ngưng thở trung ương, kiểu thở Cheyne-Stokes (Cheyne-Stokes breathing), và giảm thông khí cho cả người lớn và trẻ em được hướng dẫn chi tiết trong Chương 11 và 12. Theo truyền thống, bệnh nhân mắc chứng ngưng thở trung ương chiếm từ 5% đến 15% tổng số bệnh nhân bị ngưng thở khi ngủ được đánh giá tại hầu hết các trung tâm giấc ngủ. Tuy nhiên, có hai yếu tố đã làm tăng số lượng bệnh nhân ngưng thở trung ương được đánh giá trên thực tế. Thứ nhất, các rối loạn nhịp thở khi ngủ ngày càng được nhận diện nhiều hơn ở bệnh nhân suy tim sung huyết (congestive heart failure), và một số lượng đáng kể bệnh nhân suy tim tâm thu hoặc tâm trương mắc chứng ngưng thở khi ngủ trung ương kèm theo kiểu thở Cheyne-Stokes (Chương 28). Thứ hai, các thuốc giảm đau họ thuốc phiện (opioids) đang được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn trong kiểm soát cơn đau. Như sẽ được phân tích dưới đây, nhiều bệnh nhân tiến triển chứng ngưng thở trung ương do sử dụng các thuốc giảm đau gây nghiện mạnh (oxycodone, methadone). Cơn ngưng thở trung ương có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc chứng ngưng thở trung ương kèm kiểu thở Cheyne-Stokes hoặc những người đang điều trị bằng opioid mạnh ngay từ thời điểm ban đầu hoặc ngay khi bệnh nhân được can thiệp bằng liệu pháp áp lực đường thở dương (positive airway pressure).
Phân loại Quốc tế về Rối loạn Giấc ngủ, phiên bản thứ 3, bản sửa đổi văn bản (International Classification of Sleep Disorders, 3rd edition, text revision – ICSD-3-TR) cung cấp các tiêu chuẩn chẩn đoán cho chứng ngưng thở khi ngủ trung ương và các rối loạn giảm thông khí liên quan đến giấc ngủ, đồng thời tham chiếu đến sổ tay chấm điểm của Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine – AASM) đối với các định nghĩa về hô hấp.
Dưới đây là danh sách các rối loạn ngưng thở khi ngủ trung ương sẽ được trình bày trong chương này:
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương nguyên phát (Primary Central Sleep Apnea)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương kèm kiểu thở Cheyne-Stokes (Central Sleep Apnea with Cheyne-Stokes Breathing)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương do Thuốc hoặc Chất (Central Sleep Apnea Due a Medication or Substance)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương do Thở chu kỳ ở Vĩ độ/Độ cao lớn (Central Sleep Apnea Due to High-Altitude Periodic Breathing)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương xuất hiện trong quá trình điều trị (Treatment-Emergent Central Sleep Apnea)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương do một Rối loạn Y khoa không kèm kiểu thở Cheyne-Stokes (Central Sleep Apnea Due to a Medical Disorder without Cheyne-Stokes Breathing)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương nguyên phát ở trẻ nhũ nhi (Primary Central Sleep Apnea of Infancy)
- Chứng ngưng thở khi ngủ trung ương nguyên phát ở trẻ sinh non (Primary Central Sleep Apnea of Prematurity)
Giảm thông khí ban ngày thường được định nghĩa là PaCO2 ≥ 45 mmHg (một số tài liệu tham khảo sử dụng mức >45 mmHg). Như đã lưu ý, một số bệnh nhân chủ yếu bị giảm thông khí có thể xuất hiện một vài cơn ngưng thở trung ương, nhưng kiểu hình nổi trội vẫn là thể tích khí lưu thông bị suy giảm. Cần lưu ý rằng nhiều bệnh nhân có sự kết hợp của cả ngưng thở tắc nghẽn và ngưng thở trung ương nên có thể đủ điều kiện để chẩn đoán mắc đồng thời cả chứng ngưng thở tắc nghẽn và một rối loạn ngưng thở trung ương. Thường thì, bệnh nhân sẽ được chẩn đoán dựa trên rối loạn nào chiếm ưu thế hơn. Đối với một số hội chứng ngưng thở trung ương, tiêu chuẩn chẩn đoán có thể được đáp ứng dựa trên một nghiên cứu chuẩn độ áp lực đường thở dương (PAP titration study). Ví dụ, một bệnh nhân có thể biểu hiện các cơn ngưng thở và giảm thở tắc nghẽn trong phần chẩn đoán của một nghiên cứu đa ký giấc ngủ chia đôi (split sleep study) nhưng lại tiến triển thành chứng ngưng thở trung ương kèm kiểu thở Cheyne-Stokes trong phần chuẩn độ áp lực đường thở dương, ngay khi các sự kiện tắc nghẽn được loại bỏ hoặc giảm bớt. Cơn ngưng thở trung ương tạo điều kiện cho đường thở trên đóng lại do lực kéo xuống dưới (caudal traction) bị suy giảm; điều này có liên quan đến việc thể tích hệ hô hấp không gia tăng khi hít vào và sự sụt giảm động lực thông khí đến cả các cơ đường thở trên lẫn cơ bơm hô hấp. Do đó, các cơn ngưng thở trung ương làm đóng đường thở hoàn toàn có thể xảy ra. Ngưng thở hỗn hợp (Mixed apneas) là một ví dụ điển hình về hiện tượng này, trong đó bắt đầu bằng một khoảng ngưng thở trung ương và theo sau là một khoảng ngưng thở tắc nghẽn. Các tiêu chuẩn chẩn đoán cho các rối loạn ngưng thở trung ương yêu cầu các sự kiện ngưng thở trung ương hoặc giảm thở trung ương phải chiếm hơn 50% tổng số các sự kiện hô hấp.
Các rối loạn giảm thông khí bao gồm:
- Hội chứng Giảm thông khí Béo phì (Obesity Hypoventilation Syndrome) (được thảo luận chi tiết trong Chương 18, 21, và 24)
- Hội chứng Giảm thông khí Phế nang Trung ương Bẩm sinh (Congenital Central Alveolar Hypoventilation Syndrome)
- Giảm thông khí Trung ương Khởi phát muộn kèm theo Rối loạn chức năng Vùng dưới đồi (Late-Onset Central Hypoventilation with Hypothalamic Dysfunction)
- Giảm thông khí Phế nang Trung ương Vô căn (Idiopathic Central Alveolar Hypoventilation)
- Giảm thông khí Liên quan đến Giấc ngủ do Thuốc hoặc Chất (Sleep-Related Hypoventilation Due to a Medication or Substance)
- Giảm thông khí Liên quan đến Giấc ngủ do Rối loạn Y khoa (Sleep-Related Hypoventilation Due to a Medical Disorder)
Một số bệnh nhân mắc rối loạn giảm thông khí liên quan đến giấc ngủ chỉ bị giảm thông khí trong khi ngủ. Những người khác bị giảm thông khí ngay cả trong lúc thức và tình trạng này trở nên tồi tệ hơn trong khi ngủ. Hội chứng giảm thông khí béo phì là rối loạn duy nhất có tiêu chuẩn chẩn đoán bắt buộc phải có tình trạng giảm thông khí ban ngày. Có sự chồng chéo nhất định giữa chứng ngưng thở trung ương và các rối loạn giảm thông khí. Ví dụ, một bệnh nhân dùng thuốc nhóm opioid có thể mắc đồng thời cả ngưng thở trung ương và giảm thông khí.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ