T3 TOÀN PHẦN
( Triiodethyronine totale sérique [T3 totale]/ Triiodothyronine, Total [ T3, Total T3])
NHẮC LẠI SINH LÝ
Khi nồng độ hormon giáp trong vòng tuần hoàn giảm xuống hay khi cơ thể phải đương đầu với tình trạng stress thực thể hay tâm thần, vùng dưới đồi bị kích thích để giải phóng ra hormon gây giải phóng hormon kích thích tuyến giáp (TRH). Khi được tiết ra, TRH (thyrotropin – releasing hormone) sẽ kích thích thùy trước tuyến yên sản xuất hormon kích thích tuyến giáp (TSH). Sau đó TSH (Thyroid Stimulating Hormone) kích thích sản xuất và giải phóng tri – iodothyronin (T3) và thyroxin (T4). Hầu hết hormon giáp được sản xuất tại tuyến giáp dưới dạng T4. Các tế bào của cơ thể chuyển đổi T4 thành T3 là một hormon có hoạt tính sinh học mạnh hơn. Nếu nồng độ T3 và T4 tự do trong máu tăng lên, tuyến yên sẽ bị kích thích để làm giảm sản xuất TSH thông qua cơ chế điều hòa ngược (-) (negative feedback).
Hình 1. Cơ chế điều hòa kiểm soát các hormon giáp
Iod vô cơ do thức ăn và nước cung cấp được tập trung tích cực vào tuyến giáp và được oxy hóa thành iod hữu cơ nhờ enzym peroxidase cuả tuyến giáp và được gắn kết với tyrosin trong thyroglobulin nằm chất keo của các nang tuyến giáp. Tyrosin gắn Iod ở một (monoiodotyrosin) và hai vị trí (diiodotyrosin) và sau đó ghép đôi để hình thành các hormon co hoạt tính (di – iodotyrosin + di – iodotyrosin → tetra – iodothyronin [thyroxin hay T4] ; di – iodotyrosin + monoiodotyrosin → tri – iodothyronin [T3]. Enzym tiêu protein (pepdidase) chứa trong các tiêu đề (lysosome) giúp T3 và T4 từ thyroglobulin (một glycoprotein chứa T3 và T4) dẫn tới sự giải phóng T3 và T4 tự do. Iodotyrosin (monoiodotyrosin và di – iodotyrosin) cũng được phóng thích từ thyroglobulin, song chỉ có một lượng rất nhỏ đi tới được dòng tuần hoàn. Các indothyronin sau khi được giải phóng từ thyroglobulin sẽ nhanh chóng bị mất iod dưới tác động của deiodinase tiết ra từ các tiểu thể của tế bào nang giáp và iod này được tuyến giáp tái sử dụng để tổng hợp mới hormon giáp.
Hình 2. Sinh tổng hợp các hormon giáp
Có 2 loại T3: Phần T3 tự do hay dạng hoạt tính (chỉ chiếm 0,2% T3 toàn phần) và phần được gắn với các protein huyết tương. Khoảng 99,7% T3 được gắn với các protein huyết tương (Vd: thyroxin – binding globulin [TBG]). Các tình trạng làm tăng nồng độ protein huyết tương (TBG) như khi có thai và bị bệnh gan có thể sẽ làm tăng giả nồng độ T3 toàn phần, nhưng nồng độ T3 sẽ không bị tác động. Vì vậy, việc định lượng T3 tự do (FT3) ngày càng được các thầy thuốc lâm sàng chỉ định thay thế cho XN định lượng T3 toàn phần.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ