BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com
PHẦN III. CÁC BỆNH LÝ PHỔI U HẠT
CHƯƠNG 10: THÂM NHIỄM PHỔI TÁI PHÁT, HEN PHẾ QUẢN NẶNG VÀ TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN KÈM BIỂU HIỆN TOÀN THÂN
Relapsing pulmonary infiltrates, severe asthma, and eosinophilia with systemic manifestations
Claudio Sorino; Dina Visca; Martina Zappa; Marco Vanetti; Antonio Spanevello
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 10, 111-122
Bệnh Sử
Một phụ nữ da trắng 68 tuổi nhập khoa cấp cứu vì ho nặng kèm khạc đờm, khó thở và khò khè. Các triệu chứng này đã khởi phát từ 4 tuần trước đó. Bác sĩ gia đình đã kê đơn kháng sinh đường uống (amoxicillin/clavulanic acid 750/250 mg mỗi 8 giờ) và thuốc tiêu nhầy (carbocisteine 2,7 g mỗi 24 giờ) trong 10 ngày. Người bệnh cũng được khuyên sử dụng thuốc giãn phế quản (salbutamol và ipratropium) và glucocorticoid (beclomethasone) qua máy khí dung bên cạnh các thuốc điều trị hen đang dùng. Bất chấp phác đồ điều trị này, các triệu chứng của người bệnh cải thiện rất ít.
Tiền Sử Y Khoa
Người bệnh là một bà nội trợ, không hút thuốc và không có tiền sử phơi nhiễm với các chất độc hại. Bà không ghi nhận phản ứng bất lợi với thuốc nào.
Vào năm 55 tuổi, bà được chẩn đoán mắc Hen phế quản (Bronchial Asthma) type 2 (tăng bạch cầu ái toan trong máu và tăng Phân suất oxit nitric trong khí thở ra [FeNO]), cần điều trị dài hạn bằng Corticosteroid dạng hít (Inhaled Corticosteroids – ICS) liều trung bình kết hợp với Thuốc chủ vận beta-2 tác dụng kéo dài (Long-acting Beta-agonists – LABA): beclomethasone/formoterol 100/6 µg, hít hai nhát vào buổi sáng và hai nhát vào buổi tối. Không tìm thấy tình trạng mẫn cảm với dị nguyên.
Năm 65 tuổi, bà nhập viện vì viêm phổi và đợt cấp hen phế quản. Trong hoàn cảnh đó, phim chụp X-quang ngực và Chụp Cắt lớp vi tính (Computed Tomography – CT) cho thấy các đám mờ lớn ở hai bên phổi (Hình 10.1; Hình 10.2), và người bệnh đã được điều trị bằng cả kháng sinh và corticosteroid toàn thân. Mặc dù hình ảnh viêm phổi đã thoái lui hoàn toàn trên phim chụp, người bệnh vẫn kiểm soát hen kém và trải qua hai đợt cấp cần dùng Corticosteroid đường uống (Oral Corticosteroids – OCS) trong 6 tháng tiếp theo.
Do đó, người bệnh sau đó được chuyển sang phác đồ điều trị tăng bậc dần bao gồm ICS/LABA liều cao (beclomethasone/formoterol 200/6 μg, hít hai nhát sáng và hai nhát tối), Thuốc đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài (Long-acting Muscarinic Antagonist – LAMA: tiotropium 2,5 µg, hai nhát hít mỗi 24 giờ), và liệu pháp sinh học kháng Interleukin-5 (Anti-IL-5) cho hen tăng bạch cầu ái toan nặng: mepolizumab 100 mg tiêm dưới da mỗi 28 ngày một lần.
Người bệnh cũng mắc tăng huyết áp, Trào ngược dạ dày thực quản (Gastroesophageal Reflux Disease – GERD) và bệnh glaucoma (gờ-lô-côm). Hội chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn mức độ nhẹ (chỉ số ngưng thở – giảm thở [AHI] là 14, không kèm giảm độ bão hòa oxy ban đêm) đã được chẩn đoán vài năm trước, nhưng chỉ áp dụng liệu pháp tư thế (nằm nghiêng).
Danh sách thuốc dùng tại nhà của bà bao gồm omeprazole 20 mg và valsartan 80 mg vào buổi sáng, Travoprost 40 µg/mL nhỏ 1 giọt vào mỗi mắt vào buổi tối. Bà thường xuyên sử dụng thuốc co mạch tại chỗ để trị ngạt mũi và Thuốc chống viêm không steroid (Nonsteroidal Anti-inflammatory Drugs – NSAIDs) do đau đầu và đau tứ chi kèm dị cảm đầu chi.

Hình 10.1. Phim chụp X-quang ngực được thực hiện khi người bệnh bị viêm phổi ở tuổi 65. Các phim chụp tư thế thẳng (A) và tư thế nghiêng (B) cho thấy nhiều đám mờ ở cả hai bên phổi.

Hình 10.2. Phim Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) lồng ngực lát cắt ngang thực hiện khi người bệnh bị viêm phổi ở tuổi 65. Các hình ảnh trên cửa sổ nhu mô phổi (A–F) cho thấy nhiều đám tăng tỷ trọng ở cả hai bên tại tất cả các thùy phổi, với mức độ tổn thương lớn hơn ở bên trái.
Khám Thực Thể Và Các Dấu Hiệu Lâm Sàng Ban Đầu
Khi nhập khoa cấp cứu, người bệnh trong tình trạng khó thở và nhịp tim nhanh (tần số tim 105 nhịp/phút), sốt nhẹ (nhiệt độ cơ thể 37,5°C), và độ bão hòa oxy thấp (SpO₂ 88% khi nghỉ ngơi, thở khí phòng).
Khí máu động mạch cho thấy suy hô hấp cấp một phần (pH 7,44; pCO₂ 36,9 mmHg; pO₂ 58,4 mmHg; HCO₃⁻ 22 mmol/L). Tần số thở là 24 lần/phút, và huyết áp động mạch là 135/80 mmHg.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ