Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – Phân Tích Ca Bệnh & Thực Tiễn Lâm Sàng (2025). CHƯƠNG 2

18 phút đọc

BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com


PHẦN I: CÁC BỆNH LÝ PHỔI KẼ XƠ HÓA

CHƯƠNG 2. XƠ PHỔI VÔ CĂN VỚI MÔ HÌNH VIÊM PHỔI KẼ THÔNG THƯỜNG ĐIỂN HÌNH TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘ PHÂN GIẢI CAO LỒNG NGỰC

Idiopathic pulmonary fibrosis with a typical usual interstitial pneumonia pattern on chest high-resolution computed tomography
Ada Vancheri; Claudia Ravaglia; Sara Piciucchi; Claudio Sorino; Venerino Poletti
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 2, 13-22


BỆNH SỬ

Một người bệnh nam, 65 tuổi, than phiền về tình trạng khó thở khi gắng sức và ho khan trong 2 năm. Trong giai đoạn này, ông đã được điều trị bằng corticoid đường uống, thuốc giãn phế quản dạng hít và kháng sinh nhưng không cải thiện. Ban đầu ông được chẩn đoán mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Do tình trạng lâm sàng xấu đi, người bệnh được chụp X-quang ngực, kết quả cho thấy hình ảnh tổn thương phổi kẽ dạng lưới (reticular interstitial lung pattern) ở vùng đáy phổi (Hình 2.1). Do đó, người bệnh được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa hô hấp.

TIỀN SỬ Y KHOA

Người bệnh là người từng hút thuốc (40 bao-năm) và là nhân viên văn phòng đã nghỉ hưu, không có phơi nhiễm nghề nghiệp hoặc môi trường đáng kể với các hạt hoặc khí độc hại khác. Ông không có tiền sử gia đình mắc các bệnh hô hấp. Các bệnh đồng mắc duy nhất là tăng huyết áp và đái tháo đường típ 2, hiện đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp (valsartan) và thuốc hạ đường huyết đường uống (glimepiride và metformin).

Hình 2.1: X-Quang ngực thẳng cho thấy hình ảnh tổn thương kẽ dạng lưới chủ yếu ở các vùng thấp.

KHÁM THỰC THỂ VÀ CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG BAN ĐẦU

Khi khám thực thể, nghe thấy tiếng ran nổ như tiếng xé băng dính (Velcro sounds) ở hai bên trường phổi thấp. Độ bão hòa oxy ngoại vi (SpO2) là 95% khi nghỉ ngơi ở khí phòng. Người bệnh không có biến đổi về da, không khô miệng hay khô mắt (xerostomia nor xerophthalmia), không có hiện tượng Raynaud, cũng như các dấu hiệu khác của bệnh mô liên kết (CTDs).

THẢO LUẬN CHỦ ĐỀ 1

Chủ đề Thảo luận
Bác sĩ Hô hấp A: Người bệnh có tiếng ran nổ Velcro ở các trường phổi thấp. Dấu hiệu này rất đặc hiệu cho các bệnh phổi kẽ (ILDs) xơ hóa.
Bác sĩ Hô hấp B: Điều này phù hợp với các dấu hiệu chẩn đoán hình ảnh: X-quang ngực cho thấy hình ảnh tổn thương kẽ. Chúng ta cần thực hiện chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) phổi.
Bác sĩ Hô hấp C: Chúng ta cũng cần đo chức năng hô hấp. Tôi cũng tò mò muốn xem các kết quả đã thực hiện trước đó, vì chẩn đoán COPD đã được đưa ra.
Bác sĩ Hô hấp A: Người bệnh có tiền sử hút thuốc lá đáng kể và đang ở trong độ tuổi điển hình của xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis – IPF).
Bác sĩ Hô hấp B: Tôi không tìm thấy các triệu chứng hoặc dấu hiệu gợi ý CTD, vốn là một nguyên nhân liên quan của ILD thứ phát.
Bác sĩ Hô hấp A: Tôi tin rằng dù sao cũng nên thực hiện sàng lọc tự miễn và đánh giá chuyên khoa cơ xương khớp.
Bác sĩ Hô hấp C: Chúng ta cũng nên đo nồng độ kháng thể kết tủa (precipitins) trong huyết thanh, điều này có thể làm dấy lên nghi ngờ về viêm phổi tăng cảm (HP). Đây là loại ILD phổ biến thứ ba, sau IPF và ILD liên quan đến CTD, và người bệnh thường không nhận thức được việc tiếp xúc với các kháng nguyên hữu cơ trong môi trường.

DIỄN BIẾN LÂM SÀNG

Sự hiện diện của tiếng ran nổ Velcro hai bên ở các thùy phổi dưới, rất đặc hiệu cho ILD, đã gợi ý cho các bác sĩ hô hấp đào sâu quy trình chẩn đoán bằng cách thực hiện chụp HRCT phổi. Kết quả cho thấy các dấu hiệu hình ảnh điển hình của mô hình viêm phổi kẽ thông thường (UIP pattern): tổn thương lưới ngoại vi (peripheral reticulations), giãn phế quản co kéo (traction bronchiectasis), và hình ảnh tổ ong (honeycombing) với sự ưu thế ở vùng đáy (Hình 2.2; Hình 2.3).

Kết quả đo chức năng hô hấp (Hình 2.4) cho thấy hội chứng thông khí hạn chế (restrictive lung pattern) và giảm mức độ trung bình dung lượng khuếch tán khí CO của phổi (DLCO).

Hình 2.2: Chụp CT ngực độ phân giải cao (cửa sổ nhu mô phổi, mặt phẳng ngang) cho thấy mô hình UIP với hình ảnh tổ ong ngoại vi và đáy phổi (đầu mũi tên đỏ) và giãn phế quản co kéo (mũi tên vàng).

Hình 2.3: Chụp CT ngực độ phân giải cao (cửa sổ nhu mô phổi), ở mặt phẳng đứng ngang (A, B) và đứng dọc (C, D) cho thấy tổn thương lưới, giãn phế quản co kéo (mũi tên vàng), và hình ảnh tổ ong (đầu mũi tên đỏ) với phân bố ngoại vi và đáy phổi điển hình của mô hình UIP.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ