Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – Phân Tích Ca Bệnh & Thực Tiễn Lâm Sàng (2025). CHƯƠNG 3

18 phút đọc

BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com


PHẦN I: CÁC BỆNH LÝ PHỔI KẼ XƠ HÓA

CHƯƠNG 3. XƠ PHỔI VÔ CĂN Ở NGƯỜI HÚT THUỐC VỚI HÌNH ẢNH VIÊM PHỔI KẼ THÔNG THƯỜNG KHÔNG XÁC ĐỊNH TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH ĐỘ PHÂN GIẢI CAO

Idiopathic pulmonary fibrosis in a smoker with indeterminate usual interstitial pneumonia pattern on high-resolution computed tomography
Fausta Alfano; Claudio Tirelli; Claudio Sorino; Stefano Centanni; Michele Mondoni
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 3, 23-32


BỆNH SỬ

Một người bệnh nam 73 tuổi, người da trắng, được chuyển đến đơn vị hô hấp với lý do khó thở khi gắng sức ngày càng tăng và ho có đờm, kéo dài khoảng 4 tháng.

Sau một đợt viêm phế quản cấp (Acute Bronchitis), bác sĩ chăm sóc ban đầu nghe thấy tiếng ran nổ nhỏ hạt (Fine Crackles) khi nghe phổi. Ông đã yêu cầu chụp X-quang ngực, kết quả cho thấy dày tổ chức kẽ ở đáy phổi hai bên.

TIỀN SỬ Y KHOA

Người bệnh là một cảnh sát đã nghỉ hưu, từng hút thuốc lá với tiền sử hút 30 bao-năm, không ghi nhận tiếp xúc với các chất độc hại qua đường hô hấp.

Ông bị tăng huyết áp và đái tháo đường típ 2 (Type 2 Diabetes). Ông từng bị liệt dây thần kinh mặt (Bell’s Palsy) ở tuổi 30. Ông dùng thuốc hàng ngày để điều trị tăng huyết áp (ramipril) và đái tháo đường (metformin). Tiền sử gia đình không ghi nhận bệnh lý hô hấp hoặc bệnh mô liên kết.

Hai năm trước, người bệnh đã được chụp Cắt lớp vi tính (CLVT) ngực theo yêu cầu của bác sĩ chăm sóc ban đầu sau các đợt viêm phế quản cấp tái phát. Kết quả cho thấy hình ảnh kính mờ (Ground-glass Opacities) kín đáo ở hai đáy phổi kèm theo các dải lưới mịn (Hình 3.1), và sau đó đã được yêu cầu hội chẩn chuyên khoa hô hấp. Tuy nhiên, sau khi hồi phục hoàn toàn về lâm sàng nhờ liệu pháp kháng sinh, người bệnh đã không đi khám thêm.

KHÁM THỰC THỂ VÀ CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG BAN ĐẦU

Tại phòng khám ngoại trú chuyên khoa hô hấp, người bệnh không sốt, tỉnh táo và hợp tác. Không có phù ngoại biên, nhưng có dấu hiệu ngón tay dùi trống (Digital Clubbing) rõ rệt. Nghe phổi xác nhận có ran nổ thì hít vào ở cả hai trường phổi dưới. Khám tim mạch và bụng bình thường. Độ bão hòa oxy đo qua mạch nảy (SpO2) là 95% khi thở khí trời, nhịp thở 22 lần/phút, nhịp tim 70 nhịp/phút, và huyết áp 130/80 mmHg.

Hình 3.1. Hình ảnh chụp CLVT ngực lát cắt ngang (cửa sổ nhu mô phổi) thực hiện 2 năm trước lần khám hiện tại, cho thấy hình ảnh kính mờ kín đáo và dải lưới mịn ở đáy phổi.

Chủ đề Thảo luận 1
Bác sĩ Hô hấp A: Bạn có nghe thấy tiếng ran nổ nhỏ hạt khi nghe phổi không?
Bác sĩ Hô hấp B: Có. Và người bệnh cũng có ngón tay dùi trống. Cả hai dấu hiệu đều gợi ý rằng ông ấy có thể bị xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis – IPF).
Bác sĩ Hô hấp A: Cần chụp một phim CLVT ngực mới. Chúng ta cũng nên xem xét các bệnh phổi kẽ (Interstitial Lung Diseases – ILDs) khác có thể xảy ra.
Bác sĩ Hô hấp B: Tôi sẽ chỉ định xét nghiệm các tự kháng thể liên quan đến bệnh mô liên kết.
Bác sĩ Hô hấp A: Chúng ta có thể thực hiện mọi thứ ở ngoại trú không?
Bác sĩ Hô hấp B: Tôi nghĩ là được, tôi sẽ xúc tiến để chụp CLVT ngực nhanh chóng và sắp xếp việc lấy máu.
Bác sĩ Hô hấp A: Ông ấy cũng nên được đo chức năng hô hấp, phân tích khí máu động mạch, và thực hiện nghiệm pháp đi bộ 6 phút (6-Minute-Walk Test – 6MWT).

Kết quả đo chức năng hô hấp cho thấy kiểu rối loạn thông khí hạn chế mức độ trung bình với thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (FEV1) đạt 79% giá trị dự đoán, dung tích sống gắng sức (FVC) đạt 68% giá trị dự đoán, tỷ số FEV1/FVC (chỉ số Tiffenau-Pinelli) là 116%, và dung tích toàn phổi (TLC) đạt 67% giá trị dự đoán. Khả năng khuếch tán khí CO qua màng phế nang-mao mạch (DLCO) giảm mức độ trung bình (51% giá trị dự đoán). Có sự giảm nhẹ quãng đường đi được trong nghiệm pháp 6MWT (400 m, tương đương 74% giá trị dự đoán) nhưng không có tình trạng giảm bão hòa oxy đáng kể (SpO2 trung bình 92,5%, SpO2 thấp nhất 91%).

DIỄN TIẾN LÂM SÀNG

Một phim chụp Cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) ngực mới đã được thực hiện ngay lập tức. Kết quả cho thấy sự hiện diện của dày tổ chức kẽ ngoại vi và hình ảnh kính mờ, ưu thế ở vùng đáy phổi. Không phát hiện hình ảnh tổ ong (Honeycombing). Đáng chú ý, có sự hiện diện của dải nhu mô dưới màng phổi không bị ảnh hưởng (Subpleural Sparing) (Hình 3.2).

Sàng lọc huyết thanh học tự miễn dịch toàn diện đã được yêu cầu để loại trừ sự hiện diện của bệnh mô liên kết tiềm ẩn. Các xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANAs), kháng thể kháng kháng nguyên nhân chiết tách (ENA), kháng thể kháng citrulline, kháng thể kháng synthetase, và yếu tố dạng thấp đều âm tính.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ