Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Các rối loạn nước, điện giải và kiềm toan ở trẻ em – Tiếp cận dựa trên tình huống. Chương 4. Tăng Kali máu

60 phút đọc

Các rối loạn nước, điện giải và cân bằng kiềm toan ở trẻ em – Tiếp cận dựa trên tình huống
Pediatric Fluid, Electrolyte, and Acid-Base Disorders – A Case-Based Approach (C) 2024 Elsevier Inc
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên)


CHƯƠNG 4: TĂNG KALI MÁU

Hyperkalemia
Farahnak Assadi, MD
Pediatric Fluid, Electrolyte, and Acid-Base Disorders, Chapter 4, 57-73


Tình huống lâm sàng 1

Một cậu bé 6 tuổi bị suy thận mạn (chronic renal failure) nhẹ được bắt đầu chế độ ăn ít natri để điều trị tăng huyết áp. Hai tuần sau, cậu bé nhận thấy mình không thể tự đứng dậy khỏi ghế. Khi thăm khám thực thể, phát hiện thấy độ đàn hồi da (skin turgor) giảm nhẹ và yếu cơ gốc chi (proximal muscle weakness) rõ rệt. Huyết áp là 112/68 mmHg. Điện tâm đồ (electrocardiograph – ECG) cho thấy sóng T cao nhọn và có một số dấu hiệu sóng P và phức bộ QRS giãn rộng. Thu được các kết quả xét nghiệm máu sau: Natri 130 mmol/L, kali 9.8 mmol/L, clorua 98 mmol/L, bicarbonate 17 mmol/L, creatinine 2.7 mg/dL (238.7 µmol/L), và pH động mạch 7.32.

Các yếu tố có khả năng nhất gây ra tăng kali máu là gì và bạn sẽ điều trị tăng kali máu như thế nào?

A. Tăng kali máu giả (Pseudohyperkalemia)

B. Tăng lượng kali nhập

C. Suy tuyến thượng thận (Adrenal insufficiency)

D. Toan hóa ống thận type 4 (RTA-4) tăng kali máu (Hyperkalemic distal renal tubular acidosis)

Đáp án đúng là B

Bình luận: Tình trạng suy thận tiềm ẩn, giảm thể tích phối hợp (do mất natri sau khi bắt đầu chế độ ăn ít natri cấp tính), và nhiễm toan chuyển hóa đều có thể đóng vai trò góp phần. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có những vấn đề này mà không bị tăng kali máu đe dọa tính mạng. Do đó, bệnh nhân nên được hỏi về việc tăng lượng kali nhập; bệnh nhân này có tiền sử sử dụng một lượng lớn chất thay thế muối có chứa kali clorua (KCl).

Bệnh nhân có cả yếu cơ nghiêm trọng và thay đổi trên điện tâm đồ. Theo định nghĩa, tăng kali máu giả không gây ra triệu chứng hoặc dấu hiệu ngộ độc kali. Do đó, điều trị nên được bắt đầu bằng canxi gluconat, tiếp theo là glucose, insulin, và natri bicarbonate để tạm thời đẩy kali vào trong tế bào. Ví dụ, 500 mL dextrose 10% trong dung dịch muối (dextrose 10% in saline) cộng với 10 đơn vị insulin thường (regular insulin) cộng với 45 mmol natri bicarbonate truyền trong 30 phút sẽ làm giảm nồng độ kali huyết tương, tăng nồng độ natri huyết tương, và gây giãn nở thể tích. Nên cho dùng Natri polystyrene sulfonate qua đường uống và lặp lại khi cần thiết để loại bỏ lượng kali dư thừa. Sẽ không cần lọc máu vì bệnh nhân không bị suy thận nặng.

Tình huống lâm sàng 2

Một nam thanh niên 14 tuổi không có tiền sử bệnh lý trước đó than phiền về tình trạng mệt mỏi mạn tính. Các dấu hiệu thực thể dương tính bao gồm huyết áp 100/60 mmHg và tăng sắc tố da (increased skin pigmentation). Độ đàn hồi da tương đối bình thường. Dữ liệu xét nghiệm như sau: Natri huyết thanh 130 mmol/I, kali 6.8 mmol/L, Clorua 100 mmol/L, bicarbonate 20 mmol/L, glucose 90 mg/dL (5.0 mmol/L), áp lực thẩm thấu 275 mOsm/kg, BUN 28 mg/dL (Urê 10.0 mmol/L), và creatinine 1.2 mg/dL (106.1 µmol/L). Natri niệu 50 mmol/L, kali 34 mmol/L, áp lực thẩm thấu 550 mOsm/kg. Điện tâm đồ (ECG) cho thấy sóng T nhọn nhẹ ở các chuyển đạo trước tim. Việc truyền glucose và insulin theo tỷ lệ thích hợp dẫn đến một cơn hạ đường huyết (hypoglycemia).

Chẩn đoán có khả năng nhất là gì và bạn sẽ điều trị bệnh nhân này như thế nào?

A. Bệnh thận mạn tính

B. Suy tuyến thượng thận nguyên phát (Primary adrenal insufficiency)

C. Suy thận cấp

D. Nhiễm toan chuyển hóa

Đáp án đúng là B

Bình luận: Theo định nghĩa, bệnh nhân bị tăng kali máu mạn tính có khiếm khuyết trong bài tiết kali qua thận, vì người bình thường sẽ nhanh chóng bài tiết lượng kali dư thừa qua nước tiểu. Do đó, nồng độ kali niệu 34 mmol/L là thấp một cách không phù hợp.

Gradient kali xuyên ống thận (transtubular potassium gradient – TTKG) có thể được tính ở bệnh nhân này để đánh giá mức độ ảnh hưởng của aldosterone:

TTKG = [(K+ niệu ÷ (ALTT niệu ÷ ALTT huyết tương)) ÷ K+ huyết tương]

TTKG = [34 ÷ (550 ÷ 275)] ÷ 6.8 hay 2.5

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ