Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 39. PHÂN TÍCH VÀ XỬ TRÍ SỰ CỐ QUA SÓNG THỞ MÁY

32 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 39. PHÂN TÍCH VÀ XỬ TRÍ SỰ CỐ QUA SÓNG THỞ MÁY

Troubleshooting mechanical ventilation waveforms
David V. Tuxen; Paul Nixon
Oh’s Intensive Care Manual, 39, 473-482


Hầu hết các máy thở cơ học (mechanical ventilators) đều có một màn hình hiển thị. Bên cạnh nhiều biến số khác, màn hình này có thể hiển thị biểu đồ sóng của hai thông số đo lường cơ bản từ hệ thống dây máy thở, đó là áp lực đường thở (airway pressure) và lưu lượng (flow). Phần lớn các thông số khác như thể tích khí lưu thông (tidal volume), đồ thị lưu lượng – thể tích và đồ thị áp lực – thể tích đều được nội suy từ hai phép đo cơ bản này.

Bác sĩ có thể phát hiện nhiều vấn đề có tầm quan trọng trên lâm sàng đối với quá trình chăm sóc người bệnh thông qua việc quan sát cẩn thận và có hệ thống các biểu đồ sóng của máy thở. Điều này mang lại những chẩn đoán mà nếu chỉ khám lâm sàng thông thường thì khó có thể nhận ra, đồng thời giúp nhận biết sớm các vấn đề cần phải điều trị.

Các bác sĩ lâm sàng thường không nhận ra những biến đổi của biểu đồ sóng, và nếu có nhận ra, họ cũng không phải lúc nào cũng biết rõ nguyên nhân của vấn đề và cách giải quyết. Việc không hiểu rõ những biến đổi của biểu đồ sóng, một số trong đó bị gọi sai là sự mất đồng bộ của người bệnh (patient dyssynchrony), có thể dẫn đến việc tăng liều thuốc an thần không cần thiết, thậm chí phải dùng thuốc chẹn thần kinh cơ (thuốc giãn cơ) để buộc người bệnh phải “thích nghi” với các cài đặt máy thở mong muốn.

Tình trạng tắc nghẽn luồng khí (airflow obstruction) có ý nghĩa quan trọng trên lâm sàng và bác sĩ cần phải nhận biết tình trạng này. Cần phân biệt rõ tắc nghẽn đường thở dưới hoặc đường thở nhỏ (lower/small airway obstruction – LAO) với tắc nghẽn đường thở trên hoặc đường thở lớn (upper/large airway obstruction – UAO), vì hai tình trạng này đòi hỏi các chiến lược xử trí hoàn toàn khác nhau. Bác sĩ cần nhận biết, chẩn đoán và xử trí các kiểu thay đổi áp lực và lưu lượng hít vào bị gián đoạn do nỗ lực của người bệnh (được gọi là sóng M (M-waves) vì đó là hình dạng thông thường của chúng). Các ví dụ phổ biến bao gồm hiện tượng đói lưu lượng (flow starvation), đói thể tích (volume starvation) và kích hoạt ngược (reverse triggering). Có một số bất thường biểu đồ sóng khác có thể nhận biết được, gây cản trở chức năng của máy thở, làm mất sự thoải mái của người bệnh và sự đồng bộ giữa người bệnh – máy thở, chẳng hạn như hiện tượng tự kích hoạt chu kỳ (self-cycling) và những nỗ lực hít vào bị bỏ lỡ (missed inspiratory efforts).

A. Biểu Đồ Sóng Máy Thở Bình Thường

Hình dạng của các biểu đồ sóng máy thở bình thường phụ thuộc vào chế độ thông khí đang được sử dụng và kiểu đường cong lưu lượng hít vào (inspiratory flow profile) (Hình 39.1). Bất kể chế độ nào, bác sĩ có thể sử dụng một kế hoạch đánh giá 6 điểm có hệ thống đối với biểu đồ áp lực và lưu lượng để hỗ trợ chẩn đoán các bất thường của biểu đồ sóng (Hình 39.2).

Các Điểm Đánh Giá Biểu Đồ Sóng Có Hệ Thống
1. Bắt đầu hít vào: nhịp thở có được kích hoạt không?

2. Áp lực hít vào giai đoạn sớm.

3. Áp lực cuối kỳ hít vào.

4. Hình dạng của đường cong lưu lượng thở ra.

5. Phép đo áp lực bình nguyên (plateau pressure measurement) (thủ thuật giữ cuối kỳ hít vào).

6. Phép đo PEEP nội sinh (auto-PEEP measurement) (thủ thuật giữ cuối kỳ thở ra).

Hình 39.1. Biểu đồ mô phỏng áp lực-thời gian và lưu lượng-thời gian trong chế độ thông khí kiểm soát thể tích (Volume Control Ventilation – VCV). Nhịp thở đầu tiên được cung cấp với biểu đồ lưu lượng hít vào hằng định hoặc sóng vuông (square wave). Trục hoành là thời gian tính bằng giây. Nhịp thở thứ hai có biểu đồ lưu lượng hít vào giảm dần (decelerating). Nhịp thở thứ 3 và thứ 4 là các biểu đồ mô phỏng áp lực-thời gian và lưu lượng-thời gian trong chế độ thông khí kiểm soát áp lực (Pressure Control Ventilation – PCV).

Hình 39.2. Hình ảnh này cho thấy kế hoạch đánh giá biểu đồ sóng 6 điểm có hệ thống đối với một người bệnh đang thở máy chế độ VCV với lưu lượng hít vào giảm dần. Trục hoành là thời gian tính bằng giây.

Thông Khí Kiểm Soát Thể Tích (VCV) Với Các Kiểu Lưu Lượng Hít Vào Hằng Định (Sóng Vuông) Và Giảm Dần

Nếu bác sĩ sử dụng một lưu lượng hít vào hằng định (Vi), thành phần áp lực đường thở (Paw) tiêu tốn cho sức cản đường thở (airway resistance) sẽ duy trì tương đối ổn định trong suốt quá trình hít vào. Do đó, áp lực đường thở (Paw) sẽ tăng song song với áp lực phế nang (alveolar pressure). Độ dốc của đường cong này đại diện cho độ giãn nở của hệ hô hấp (respiratory system compliance) (V/P). Bác sĩ có thể đo áp lực bình nguyên (Pplat), một giá trị xấp xỉ bằng áp lực phế nang, thông qua thủ thuật giữ cuối kỳ hít vào (inspiratory hold manoeuvre). Ở những người bệnh có sức cản đường thở bình thường, thường có một sự sụt giảm áp lực nhỏ từ áp lực đỉnh hít vào (peak inspiratory pressure) xuống áp lực bình nguyên (tạo thành chênh lệch áp lực đỉnh – bình nguyên (peak-to-plateau gradient)). Sự sụt giảm áp lực này tương đương với áp lực tiêu tốn cho lưu lượng hít vào hằng định và có thể được sử dụng để tính toán sức cản đường thở hít vào.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ