Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 87. QUẦN THỂ NGƯỜI MĀORI, THỔ DÂN CHÂU ÚC VÀ CƯ DÂN ĐẢO TORRES STRAIT VÀ BỆNH LÝ NGUY KỊCH: TỔNG QUAN

44 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 87. QUẦN THỂ NGƯỜI MĀORI, THỔ DÂN CHÂU ÚC VÀ CƯ DÂN ĐẢO TORRES STRAIT VÀ BỆNH LÝ NGUY KỊCH: TỔNG QUAN

Māori, Aboriginal and Torres Strait Islander populations and critical illness: an overview
Paul Secombe; Alex Brown; Alex Browne
Oh’s Intensive Care Manual, 87, 989-996


GIỚI THIỆU

Các dân tộc Bản địa (First Nations peoples) là những nhóm sắc tộc được biết đến như những cư dân đầu tiên của một khu vực, có sự tiếp nối lịch sử với các xã hội thời kỳ tiền xâm lược và tiền thuộc địa phát triển trên lãnh thổ của họ. Những nhóm dân cư này có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn và tuổi thọ trung bình ngắn hơn so với các nhóm dân cư khác sống trong cùng một quốc gia. Sự bất bình đẳng trong y tế và kết cục sức khỏe (health outcomes) tạo ra gánh nặng cho các quần thể người Bản địa, dẫn đến tỷ lệ khuyết tật và tử vong cao hơn ở độ tuổi trẻ hơn đáng kể. Các rào cản mang tính cấu trúc cản trở việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp bao gồm sự cô lập về mặt địa lý, tình trạng kinh tế xã hội và nạn phân biệt chủng tộc có hệ thống (systemic racism).

Người Bản địa trên toàn thế giới hiện đang phải đối mặt với sự bất bình đẳng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và kết cục sức khỏe. Tình trạng này hiện diện ở các nhóm người Bản địa có sự khác biệt sâu sắc đến từ Bắc Mỹ, Châu Á, Châu Phi, vùng Bắc Cực, Trung và Nam Mỹ, Thái Bình Dương và Liên bang Nga. Mặc dù thừa nhận những khác biệt này mang tính toàn cầu, trong phạm vi chương này, chúng tôi tập trung vào người Māori, Thổ dân Châu Úc (Aboriginal) và Cư dân Đảo Torres Strait (Torres Strait Islander peoples), những người Bản địa lần lượt của Aotearoa New Zealand (NZ) và Úc.

Các dân tộc Bản địa có chung trải nghiệm về quá trình thực dân hóa (colonisation). Khái niệm này được hiểu là ‘hành động hoặc quá trình thiết lập một hoặc nhiều thuộc địa ở một nơi nào đó, đặc biệt là một phần của nỗ lực nhằm chiếm đoạt khu vực định cư và khẳng định quyền kiểm soát chính trị đối với bất kỳ cư dân bản địa nào’. Quá trình thực dân hóa đã và đang tiếp tục tác động sâu sắc đến cuộc sống của các dân tộc Bản địa. Các tác động trực tiếp bao gồm sự du nhập của các bệnh truyền nhiễm mà người Bản địa không có hoặc có rất ít sức đề kháng, cùng với các đạo luật nhằm đàn áp các thực hành truyền thống. Điển hình như Đạo luật Đàn áp Tōhunga năm 1907 (Tōhunga Suppression Act of 1907) quy định y học truyền thống của người Māori là bất hợp pháp tại Aotearoa NZ, và các luật pháp hỗ trợ chính sách tách những đứa trẻ ra khỏi các gia đình Thổ dân Châu Úc và Cư dân Đảo Torres Strait ở Úc. Các tác động gián tiếp bao gồm việc tịch thu đất đai (đặc biệt là các bản đồ mô tả sự suy giảm diện tích đất sở hữu của người Māori theo thời gian), đàn áp văn hóa, ngôn ngữ và sự du nhập của rượu, thuốc lá.

Các bác sĩ hồi sức tích cực (intensivists) dẫn dắt một nhóm đa chuyên khoa chuyên cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân mắc bệnh lý nguy kịch (critically ill patient) cùng gia đình họ, và được cá nhân hóa theo hoàn cảnh riêng biệt của từng người bệnh. Việc thấu hiểu lý do và cách thức mà các bệnh nhân nguy kịch người Māori, Thổ dân Châu Úc và Cư dân Đảo Torres Strait khác biệt so với các bệnh nhân khác là yêu cầu bắt buộc đối với mọi bác sĩ lâm sàng có nguyện vọng làm việc trong lĩnh vực chăm sóc tích cực (critical care).

QUẦN THỂ NGƯỜI MĀORI, THỔ DÂN CHÂU ÚC VÀ CƯ DÂN ĐẢO TORRES STRAIT

Người Māori chiếm 17% dân số tại Aotearoa NZ, trong khi Thổ dân Châu Úc cùng Cư dân Đảo Torres Strait chiếm khoảng 3,8% dân số Úc. Cả hai nhóm này đều có tỷ lệ nhập viện cao hơn so với dự kiến. Ở cả hai quốc gia, có sự chênh lệch rõ rệt về kinh tế, y tế và giáo dục so với các quần thể không phải người bản địa. Những khác biệt này càng trở nên trầm trọng hơn bởi một số yếu tố tác động đến kết cục sức khỏe, bao gồm khả năng tiếp cận địa lý với các dịch vụ y tế, sự sẵn có của các dịch vụ phù hợp về mặt văn hóa và sự bất lợi về kinh tế xã hội (socio-economic disadvantage). Quần thể Người Bản địa ít có khả năng sinh sống tại các trung tâm đô thị lớn, nơi tập trung hầu hết các dịch vụ y tế. Điều này đặc biệt đúng đối với các dịch vụ chăm sóc tích cực (ICU) đòi hỏi kỹ thuật cao như trao đổi oxy qua màng ngoài cơ thể (extracorporeal membrane oxygenation). Hơn nữa, sự sẵn có của dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp về mặt văn hóa đã chứng minh là có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng dịch vụ của người dân. Cả người Māori và Thổ dân Châu Úc cùng Cư dân Đảo Torres Strait đều cho biết họ gặp nhiều khó khăn đáng kể khi tiếp cận các dịch vụ y tế lúc cần thiết, với nguyên nhân chính là nạn phân biệt chủng tộc và những trải nghiệm tiêu cực liên quan đến sự thiếu nhạy cảm về văn hóa (cultural insensitivity). Tình trạng này càng phức tạp hơn bởi sự bất lợi về kinh tế xã hội. Cả người Māori và Thổ dân Châu Úc cùng Cư dân Đảo Torres Strait đều có nhiều khả năng phải sống trong những ngôi nhà không đủ tiêu chuẩn, đặc trưng bởi tình trạng quá tải người ở, và thường cư trú tại những khu vực có mức độ khó khăn cao.

Chúng ta có thể tóm tắt tất cả những điều này dưới tiêu đề các yếu tố quyết định sức khỏe xã hội (social determinants of health). Thật vậy, Viện Sức khỏe và Phúc lợi Úc ước tính rằng các yếu tố này chính là nguyên nhân gây ra một phần ba khoảng cách về sức khỏe đối với quần thể Thổ dân Châu Úc và Cư dân Đảo Torres Strait.

Dù cách biệt bởi vùng biển Tasman, hai nhóm quần thể người Māori và Thổ dân Châu Úc cùng Cư dân Đảo Torres Strait vẫn có những điểm tương đồng quan trọng về gánh nặng bệnh mãn tính. Cả hai đều mắc tỷ lệ đái tháo đường cao hơn (đặc biệt là đái tháo đường type 2), béo phì, bệnh lý tim mạch và bệnh thận mãn tính, đồng thời các bệnh lý này thường khởi phát ở độ tuổi trẻ hơn. Chúng đóng góp tỷ lệ không nhỏ vào các ca nhập viện có thể phòng ngừa được. Bất chấp tỷ lệ mắc các bệnh lý đi kèm mãn tính (chronic co-morbidities) cao hơn, khả năng tiếp cận cũng như việc cung cấp dịch vụ chăm sóc chuyên khoa và thuốc men lại thấp hơn đối với cả bệnh nhân Thổ dân Châu Úc, Cư dân Đảo Torres Strait và bệnh nhân người Māori.

Bất chấp những tác động sâu sắc của quá trình thực dân hóa, các quan niệm của người Māori và Thổ dân Châu Úc cùng Cư dân Đảo Torres Strait về đất đai và ‘quốc gia’ vẫn rất mạnh mẽ và khác biệt so với người châu Âu. Tương tự, họ cũng nhìn nhận sức khỏe và bệnh tật theo một cách khác biệt. Mason Durie mô tả ‘Te Whare Tapa Whā’ (ngôi nhà bốn mặt), một biểu tượng của người Māori về sức khỏe và hạnh phúc được hình tượng hóa như một ngôi nhà thiêng liêng, nhấn mạnh sự cân bằng phải được duy trì giữa bốn yếu tố thiết yếu. Hình ảnh trực quan sẽ giúp dễ hình dung mô hình này hơn so với việc mô tả bằng lời (Hình 87.1). Tương tự, một nghiên cứu định tính kiểm tra thái độ đối với việc hiến tạng (organ donation) trong số các nhân viên bệnh viện là Thổ dân ở Miền Trung nước Úc đã làm nổi bật vai trò trung tâm của đất nước, gia đình, các mối quan hệ gia đình và vai trò của họ trong việc duy trì sức khỏe. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các mô hình phương Tây trong việc chỉ định người thân trực hệ (senior next of kin) có thể không phù hợp. Vì vậy, việc điều phối văn hóa (cultural brokerage) trong lĩnh vực này rất quan trọng để xác định ai là thành viên gia đình phù hợp nhất chịu trách nhiệm chấp thuận các thủ tục khi bệnh nhân không thể tự thực hiện.

Tương tự như vậy, tại Aotearoa New Zealand, vai trò của gia đình mở rộng (whanau) khác với mô hình gia đình hạt nhân của phương Tây. Các cuộc hội chẩn gia đình mở rộng có thể bao gồm nhiều cá nhân, do đó việc xác định một người phát ngôn cho toàn bộ gia đình mở rộng là bước khởi đầu quan trọng thiết yếu để duy trì giao tiếp hiệu quả. Bằng chứng từ các chuyên khoa khác như thận học và tim mạch cho thấy sự tham gia của Người Hành nghề Y tế Thổ dân (Aboriginal Health Practitioner) vào nhóm lâm sàng mang lại tác động tích cực đến sự tương tác giữa các bác sĩ lâm sàng và bệnh nhân, giúp cải thiện kết cục sức khỏe; một phần trong số đó là nhờ khả năng giao tiếp an toàn về mặt văn hóa được nâng cao.

Hình 87.1. ‘Te Whare Tapa Whā’ đại diện cho bốn nền tảng sức khỏe của người Māori (Hauora); sức khỏe thể chất (Taha tinana), sức khỏe tâm linh (Taha wairua), sức khỏe gia đình (Taha whānau) và sức khỏe tâm thần (Taha hinengaro) được kết nối với đất đai (Whenua) tạo thành nền móng.

Khác với nước Úc, Aotearoa NZ đã ký kết thành công một hiệp ước giữa những người đi khai phá thuộc địa và các dân tộc Bản địa. Hiệp ước Waitangi (Treaty of Waitangi), ký vào ngày 6 tháng 2 năm 1840 nhưng phần lớn bị phớt lờ trong 120 năm sau đó, hiện tạo thành nền tảng cho mọi quá trình ra quyết định chính sách bao gồm cả y tế ở New Zealand. Một trong những nguyên tắc cơ bản của hiệp ước là người Māori phải có quyền tiếp cận công bằng với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đạt được kết cục sức khỏe tương đương như những người không phải là người Māori. Nhiều chuyên gia lập luận rằng sự vắng bóng của một hiệp ước như vậy ở Úc góp phần vào sự thất bại của các chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách trong mọi thước đo chăm sóc sức khỏe.

Với nền tảng kiến thức về những khác biệt quan trọng giữa các dân tộc Bản địa và không phải Bản địa ở Aotearoa NZ và Úc, chúng ta có thể tiến hành khám phá sâu hơn về các bệnh nhân Bản địa tại khoa Hồi sức Tích cực (ICU).

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Nhân Khẩu Học

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ