Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Cập nhật chẩn đoán và điều trị béo phì, hội chứng chuyển hóa

11 phút đọc

ĐỊNH NGHĨA

Béo phì là tình trạng tăng trọng lượng cơ thể mạn tính do tăng khối lượng mỡ quá mức và không bình thường, liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa. Sự phát triển kinh tế – xã hội đã làm thay đổi chế độ dinh dưỡng, cung nhiều hơn cầu, kết hợp phong cách sống tĩnh tại nhiều hơn vận động, dẫn đến tình hình béo phì tǎng lên với tốc độ báo động, không những ở các quốc gia phát triển, mà còn ở các quốc gia đang phát triển. Béo phì là nguy cơ của nhiều bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, thoái hóa khớp, ung thư… Mức độ béo phì được đánh giá theo nhiều phương pháp, trong đó công thức BMI (Body Mass Index: chỉ số khối cơ thể) đơn giản, dễ sử dụng và được quốc tế công nhận:

BMI = Trọng lượng (Kg)/Chiều cao (m)2

Để phù hợp với đặc điểm các nước vùng châu Á, từ nghiên cứu thực tế ở các quốc gia đã lấy tiêu chuẩn ban hành năm 2000:

Bảng 1: Tiêu chuẩn ban hành năm 2000 về phân loại béo phì

Loại BMI
Gầy   < 18,5
Bình thường   18,5- 22,9
Tăng cân Nguy cơ ≥ 23- 24,9
Béo phì độ 1 25- 29,9
Béo phì độ 2 ≥ 30

Bảng 2: Đánh giá mức độ béo phì theo Tổ chức Y tế Thế giới

Loại BMI
Gầy   < 18,5
Bình thường   18,5- 24,9
Tăng cân   25- 29,9
Béo phì Béo phì độ 1 ≥ 30- 34,9
Béo phì độ 2 35- 39,9
Béo phì độ 3 ≥ 40

NGUYÊN NHÂN

Yếu tố môi trường

Là những yếu tố liên quan đến tình trạng cung cấp nhiều calo so với nhu cầu của cơ thể:

Ăn nhiều: dẫn đến dư thừa calo, đặc biệt các loại thức ăn nhanh, thức ăn chứa nhiều glucid. Ăn nhiều có thể do thói quen có tính chất gia đình, hoặc ăn nhiều trong bệnh lý tâm thần.

Giảm hoạt động thể lực: do nghề nghiệp tĩnh tại hoặc hạn chế vận động do tuổi già. Giảm hoạt động thể lực nên sử dụng năng lượng ít dẫn đến dư thừa và tích lũy.

Di truyền

Có nhiều bằng chứng kết luận di truyền có đóng vai trò trong bệnh béo phì, như gia đình có bố và mẹ béo phì thì con bị béo phì đến 80%, có bố hoặc mẹ béo phì thì con béo phì thấp hơn 40%, và bố mẹ không béo phì thì chỉ 7% số con bị béo phì.

Nguyên nhân nội tiết

Hội chứng Cushing: phân bố mỡ nhiều ở mặt, cổ, bụng trong khi tứ chi gầy.

U tiết insulin: tăng cảm giác ngon miệng và tăng tân sinh mô mỡ từ glucid.

Suy giáp: béo phì do chuyển hóa cơ bản giảm.

Béo phì-sinh dục: mỡ phân bố nhiều ở thân và gốc chi kèm suy sinh dục.

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Béo phì trên lâm sàng biểu hiện sự tăng cân được xác định bằng phương pháp đo nhân trắc (anthropometry) lâm sàng:

Chỉ số khối cơ thể (BMI) (bảng 1 và bảng 2).

Công thức Lorenz (Trọng lượng thực/trọng lượng lý tưởng) x100%

> 120-130%: tăng cân

> 130 % : béo phì

Độ dày của nếp gấp da: phản ánh lớp mỡ dưới da. Có thể đo bằng compar, ở nhiều vị trí. Trên lâm sàng thường đo ở cánh tay (cơ tam đầu), giữa vai và đùi. Trung bình, độ dày nếp gấp cơ tam đầu là 16,5 đối với nam và 12,5 đối với nữ.

Chỉ số cánh tay đùi: 0,58 đối với nam, 0,52 đối với nữ.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ