ĐẠI CƯƠNG.
Tử vong do tai biến mạch máu não đứng hàng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư. Chảy máu trong não chiếm khoảng14,8 – 40% các trường hợp tai biến mạch máu não và có tỷ lệ tử vong dao động 28 – 61% (Lebedev, 1980).
Chảy máu trong não tự phát hay còn gọi là máu tụ trong não (spontaneous intracerebal haematoma) được xem như là chảy máu tự phát do vỡ phình mạch (spontaneous aneurysmal haemorrhage). Chảy máu tự phát có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn với các biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào vị trí và sự lan rộng của vùng chảy máu.
CƠ CHẾ CHẢY MÁU:
Có 2 cơ chế chảy máu não:
Vỡ túi phồng động mạch vi thể:
Charcot và Bouchard (1868) lần đầu tiên mô tả các vi phình mạch (microaneurysms) ở động mạch thể vân (striate). Động mạch thể vân là mạch máu có thành mỏng và dễ chảy máu nên thường được gọi là động mạch chảy máu (động mạch Charcot).
Cơ chế xuyên mạch của Rouchoux:
Rouchoux (1884) cho rằng: vùng chảy máu não là vùng trước đó đã xuất hiện nhồi máu não, thành mạch tại vùng nhồi máu đã bị hoại tử. Khi tuần hoàn bên được tái lập, máu được đưa đến chỗ nhồi máu, nhưng do thành mạch máu này đã bị hoại tử nên thành mạch vỡ, chảy máu và tạo thành máu tụ.
NGUYÊN NHÂN:
Ở trẻ em:
Ở trẻ sơ sinh: do đẻ non thiếu tháng; do thiếu vitamin K.
Ở trẻ em có thể do bệnh ưa chảy máu (haemophilia); chảy máu thứ phát do dị dạng động-tĩnh mạch não; hoặc chảy máu do u não.
Ở người lớn:
Do huyết áp cao và vữa xơ động mạch.
Do vỡ phình mạch máu não; dị dạng động-tĩnh mạch não (arteriovenous malformation – AVM); do u não; nhồi máu não; bệnh rối loạn đông máu; bệnh thoái hoá mạch máu não dạng tinh bột (cerebral amyloid angiopathy).
VỊ TRÍ Ổ CHẢY MÁU:
Chảy máu các thùy não: hay gặp chảy máu thùy thái dương và thùy chẩm; thùy đỉnh và thùy trán ít gặp.
Chảy máu não thất.
Chảy máu bao trong: chảy máu bèo vân (putamen); chảy máu đồi thị.
Chảy máu thân não.
Chảy máu bán cầu tiểu não.
Chảy máu có thể một ổ hoặc nhiều ổ.
Chảy máu do cao huyết áp và vữa xơ động mạch hay gặp ở vị trí bao trong; thân não và bán cầu tiểu não. Loại chảy máu này hay gặp ở người có tuổi từ 50 – 60.
Chảy máu do vỡ các vi phình mạch và dị dạng động-tĩnh mạch não (AVM) và nguyên nhân không rõ ràng thường xảy ra ở người trẻ (kể cả trẻ em), khu trú thường ở não thất, các thùy não và có thể có nhiều ổ máu tụ.
LÂM SÀNG.
Triệu chứng chung:
Giai đoạn khởi phát:
Cách khởi phát của bệnh cũng rất khác nhau, nó tùy thuộc vào nguồn chảy máu.
Khởi phát đột ngột kiểu “sét đánh”: bệnh diễn ra không hề có triệu chứng báo trước. Người bệnh đang khỏe mạnh bỗng tự dưng đau đầu dữ dội, có cơn co cứng và đi vào hôn mê ngay; rối loạn nghiêm trọng chức phận sống và nhiều trường hợp tử vong khi chưa kịp đưa tới bệnh viện. Loại này thường do vỡ phình mạch lớn, vỡ vào não thất, thân não.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ