ĐẠI CƯƠNG.
Sơ lược lịch sử:
Hyppocrates (460 – 370 trước Công Nguyên) đã mô tả phương pháp kéo giãn để điều trị di lệch đốt sống do chấn thương.
Paul of Aegina (265 – 690) là người đầu tiên mô tả cắt cung sau để giải phóng chèn ép tủy. Sau đó Ambrose Pare (1564 – 1598) là người giới thiệu khá chi tiết về phẫu thuật cắt cung sau.
Pirogop N.I. (1847) là người đầu tiên phẫu thuật lấy bỏ đầu đạn ở cột sống cổ do vết thương hỏa khí. Thời kỳ này các nhà ngoại khoa rất lo ngại khi mổ vào cột sống và tủy sống vì “chảy máu lớn” và “viêm tủy”. Do vậy trong thời kỳ chiến tranh Nga-Pháp (1870 – 1871) trong số 167 thương binh bị vết thương CS-TS chỉ có 10 trường hợp được phẫu thuật.
Việc áp dụng phương pháp vô khuẩn trong ngoại khoa (1892) và sự ra đời kháng sinh vào năm 1929 đã đưa lại nhiều thành công trong phẫu thuật vào cột sống và tủy sống.
Nguyên nhân:
VTCS-TS chủ yếu gặp trong thời chiến do mảnh phá (bom, mìn, mảnh pháo) và đạn thẳng. Trong thời bình chủ yếu do đánh nhau bị đâm bằng vật sắc nhọn.
Tỷ lệ VTCS-TS do hoả khí rất khác nhau và tùy thuộc vào từng thời kỳ và từng trận đánh. Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) VTCS-TS là 0,53%. Trong cuộc chiến tranh Vệ Quốc vĩ đại ở Liên-Xô (1941 – 1945) VTCS-TS là 0,3 – 1,5%.
VTCS-TS là vết thương nặng, có tỉ lệ tử vong cao. Những trường hợp sống sót để lại di chứng và tàn phế nặng nề.
Phân loại:
Căn cứ vào đường ống vết thương người ta chia ra vết thương thấu tủy và vết thương không thấu tủy.
Vết thương thấu tủy:
Là vết thương gây tổn thương ống sống, màng tủy và tủy. Vết thương thấu tủy được chia ra 3 loại.
Vết thương xuyên (nhóm I theo Coxinski)
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ