Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. Chương 1. NHẬN BIẾT MỌI THỨ: QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

34 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


CHƯƠNG 1: NHẬN BIẾT MỌI THỨ: QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Recognizing Anything : Past, Present, and Future
William Herring, MD, FACR
Learning Radiology, 1, 1-10


Chương này sẽ giới thiệu ngắn gọn đến bạn các phương thức hình ảnh học chính: X-quang thường quy, chụp cắt lớp vi tính, siêu âm, chụp cộng hưởng từ, và x-quang tăng sáng truyền hình. Y học hạt nhân có một chương riêng trực tuyến (xem Phụ lục điện tử A).

Trong mỗi chương của cuốn sách này, sẽ có một “Câu hỏi Tình huống” dựa trên nội dung của chương đó. Đáp án cho mỗi câu hỏi sẽ được tìm thấy trong một hộp đặc biệt ở cuối chương. Đừng lo lắng nếu bạn không biết câu trả lời đúng cho các câu hỏi tình huống—bạn sắp bắt đầu học những câu trả lời đó và nhiều hơn thế nữa.

CÂU HỎI TÌNH HUỐNG 1

Đây là một nam thanh niên 23 tuổi có phim X-quang ngực bình thường. Chúng ta biết có máu bên trong các buồng cơ của tim. Tại sao chúng ta không thể nhìn thấy máu bên trong tim? Lời giải thích có trong chương này và câu trả lời xuất hiện ở cuối chương.

Hình ảnh của một phim X-quang ngực bình thường

QUÁ KHỨ: SỰ KHÁM PHÁ

Năm 1895, Wilhelm Röntgen (hoặc Roentgen), khi đang làm việc trong một phòng thí nghiệm tối ở Würzburg, Đức, đã nhận thấy một màn hình được sơn bằng vật liệu huỳnh quang và đặt cách đó vài feet bắt đầu phát sáng (huỳnh quang) khi ông cấp năng lượng cho một ống tia âm cực đã được che kín. Ông cũng nhận thấy rằng nếu ông giữ bàn tay của mình trước màn hình huỳnh quang, hình ảnh các xương của bàn tay ông sẽ hiện lên. Ban đầu, ông nghĩ rằng mình đang bị ảo giác (Hình 1.1).

Sau khi lặp lại thí nghiệm, ông nhận ra rằng màn hình đang phản ứng với sự sản sinh ra một dạng năng lượng vô hình truyền đi trong phòng. Ông đặt tên cho các tia mới này là tia X—sử dụng ký hiệu toán học “x” cho một điều chưa biết. Không lâu sau đó, gần như mọi người đều chụp X-quang cho gần như mọi thứ có thể tưởng tượng được (xem Phụ lục điện tử E. Lịch sử Sơ khai và Sự Háo hức của Công chúng về Phát hiện Tia X).

Wilhelm Konrad Roentgen (1845-1923), nhà vật lý thực nghiệm người Đức và là người phát hiện ra tia X. Khi đang sử dụng một ống phóng điện (trong đó một dòng điện được phóng qua một chất khí ở áp suất thấp) trong một căn phòng tối, Roentgen nhận thấy rằng một tấm bìa được phủ bari platinocyanua đã phát sáng khi ống được bật lên. Hiệu ứng này không bị chặn lại bởi một bức tường xen vào, hay thậm chí là một tấm kim loại mỏng. Roentgen đặt tên cho hiện tượng mới được phát hiện này là bức xạ tia X, và cho rằng nó bao gồm các tia điện từ có bước sóng ngắn hơn ánh sáng. Ông đã được trao tặng Giải Nobel Vật lý đầu tiên vào năm 1901.

Hình 1.1 Wilhelm Roentgen Khám phá ra Tia X. Wilhelm Roentgen trong phòng thí nghiệm của ông ở Đức được thể hiện trong bức ảnh này từ năm 1895, năm mà (vào ngày 8 tháng 11) ông đã phát hiện ra một nguồn bức xạ điện từ mới, vô hình mà ông gọi là “tia X”. Với khám phá của mình, ông đã được trao giải Nobel Vật lý đầu tiên vào năm 1901. 

HIỆN TẠI: CÁC PHƯƠNG THỨC HÌNH ẢNH NGÀY NAY

X-quang thường quy (Conventional Radiography – CR, Plain Films)

Các hình ảnh được tạo ra thông qua việc sử dụng bức xạ ion hóa, tức là sự sản sinh tia X, nhưng không có thêm chất cản quang như bari hoặc iod, được gọi là X-quang thường quy hoặc, thường hơn, phim thường hoặc phim X-quang, như trong phim X-quang ngực.

Các hình ảnh như vậy đòi hỏi một nguồn để tạo ra tia X (“máy X-quang”), một phương pháp để ghi lại hình ảnh (phim, cassette, hoặc tấm cảm quang) và một cách để xử lý hình ảnh đã ghi (sử dụng hóa chất hoặc đầu đọc kỹ thuật số).

Các hình ảnh X-quang thường quy được tạo ra khi đó, cũng như ngày nay, bằng sự kết hợp của bức xạ ion hóa và ánh sáng chiếu vào một bề mặt cảm quang, từ đó tạo ra một hình ảnh ẩn sau đó được xử lý để trở nên hữu hình. Trong khoảng một trăm năm sau khi phát hiện ra tia X, các hình ảnh X-quang thường quy tồn tại trên một tấm phim.

Ban đầu, việc xử lý phim được thực hiện trong một phòng tối chứa các khay hóa chất khác nhau và các tấm phim sau đó được treo lên để khô. Thuật ngữ đọc phim ướt, nay được thay thế bằng cụm từ “đọc phim cấp cứu”, xuất phát từ việc các phim ban đầu được đọc khi vẫn còn ướt đẫm hóa chất xử lý và nước.

Các phim đã xử lý sau đó được xem trên các hộp đèn (nếu hình ảnh được sử dụng trong một bộ phim hoặc chương trình truyền hình, nó gần như luôn được đặt ngược hoặc lộn ngược). Ở một vài nơi, phim vẫn là phương tiện được sử dụng, nhưng nó ít phổ biến hơn nhiều vì có một số nhược điểm lớn.

  • Việc lưu trữ phim của mỗi bệnh nhân đòi hỏi một không gian vật lý rất lớn. Mặc dù mỗi tấm phim rất mỏng, nhưng nhiều phim trong hàng ngàn hồ sơ bệnh nhân chiếm rất nhiều không gian.
  • Nhược điểm khác là các phim X-quang chỉ có thể ở một nơi tại một thời điểm, không nhất thiết là nơi chúng có thể cần thiết để hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân.

Cuối cùng, X-quang kỹ thuật số ra đời, trong đó phim ảnh được thay thế bằng một cassette hoặc tấm cảm quang có thể được xử lý bởi một đầu đọc điện tử, và hình ảnh đó sau đó có thể được lưu trữ ở định dạng kỹ thuật số. Quá trình xử lý điện tử này không còn cần phòng tối để rửa phim hay một phòng lớn để lưu trữ chúng. Vô số hình ảnh có thể được lưu trữ trong không gian của một đĩa cứng đang quay trên máy chủ máy tính. Quan trọng hơn, các hình ảnh có thể được xem bởi bất kỳ ai có quyền, ở bất kỳ đâu trên thế giới, vào bất kỳ lúc nào.

Ngày nay, các phim hình ảnh học chủ yếu được lưu trữ trên các máy chủ máy tính, nơi hình ảnh có thể được lưu trữ lâu dài, từ đó chúng có thể được truyền đến người khác và được lưu trữ. Hệ thống này được gọi là hệ thống PACS, viết tắt của Hệ thống Lưu trữ, Truyền tải và Truy cập hình ảnh (Picture Archiving, Communications and Storage system). Với hệ thống PACS (thường được rút ngắn thành “PACS”), hình ảnh từ tất cả các phương thức có thể được lưu trữ và truy xuất bao gồm X-quang thường quy (CR), chụp cắt lớp vi tính (CT), siêu âm (US), chụp cộng hưởng từ (MRI), x-quang tăng sáng truyền hình, và y học hạt nhân (NM).

Ưu điểm, Nhược điểm và Ứng dụng của X-quang thường quy

Ưu điểm chính của X-quang thường quy là hình ảnh được thu nhận tương đối nhanh, chi phí sản xuất thấp và có thể được thực hiện ở hầu hết mọi nơi bằng máy di động. Chúng vẫn là các phim hình ảnh học được thực hiện rộng rãi nhất.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ