Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)
CHƯƠNG 21. Nhận biết các Bất thường không do Chấn thương của Xương chi và Bệnh lý Viêm khớp
Recognizing Nontraumatic Abnormalities of the Appendicular Skeleton and Arthritis
William Herring, MD, FACR
Learning Radiology, 21, 247-269
Chụp X-quang thường quy, CT và MRI trong Chẩn đoán hình ảnh Xương
Hầu hết các thăm khám về xương đều bắt đầu bằng phim X-quang thường quy được chụp ở ít nhất hai tư thế vuông góc 90 độ với nhau (gọi là các tư thế trực giao) để định vị các bất thường tốt hơn và quan sát được càng nhiều phần xương càng tốt (Hình 21.1).

HÌNH 21.1 Tầm quan trọng của các hình chiếu trực giao (Orthogonal Views). A. Trên phim chụp thẳng khớp gối, một viên đạn (mũi tên liền) dường như nằm trong phần xa của xương đùi. B. Phim chụp nghiêng cho thấy viên đạn thực chất nằm trong mô mềm trên xương bánh chè (mũi tên đứt), không phải trong xương đùi. Các phim chụp xương thường quy đòi hỏi hai hình ảnh ở góc gần 90 độ với nhau để giúp định vị một tổn thương.
Tuy nhiên, X-quang thường quy không thể hiển thị toàn bộ chu vi của một xương ống và không đặc biệt nhạy trong việc phát hiện các bất thường mô mềm của hệ cơ xương khớp ngoài tình trạng sưng nề mô mềm đáng kể.
Điều quan trọng cần nhớ là, mặc dù vỏ xương bao quanh hoàn toàn toàn bộ xương, trên phim X-quang thường quy, nó được nhìn thấy rõ nhất ở nơi nó được quan sát ở mặt tiếp tuyến (tức là, nơi chùm tia X đi qua tiếp tuyến với xương).
| Câu hỏi tình huống 21
Bệnh nhân nam, 63 tuổi, đau mạn tính ở ngón chân cái phải. Phim X-quang thường quy bàn chân này xác nhận chẩn đoán lâm sàng nào?Câu trả lời xem ở cuối chương. |
CT và MRI có thể thể hiện toàn bộ chu vi và cấu trúc bên trong của xương, đặc biệt với MRI, còn cho thấy cả các mô mềm xung quanh mà không thể nhìn thấy trên X-quang thường quy. Điều này được thực hiện nhờ vào việc tái tạo hình ảnh bằng máy tính và khả năng hiển thị vượt trội các khác biệt tinh tế về mật độ mô (Hình 21.2).

HÌNH 21.2 Hình ảnh Xương bình thường. A. Đây là phim X-quang thẳng (trước-sau) của khớp háng. Khi nhìn ở mặt tiếp tuyến, vỏ xương được thấy như một đường trắng, nhẵn, có độ dày thay đổi ở các phần khác nhau của xương (mũi tên trắng). Ổ tủy nằm trong vỏ xương và chứa một mạng lưới các bè xương đan xen (vòng tròn). Ranh giới vỏ-tủy là giao diện giữa bờ trong của vỏ xương và ổ tủy (mũi tên đen). B. Một lát cắt CT ngang qua thân xương đùi mô tả toàn bộ chu vi 360° của vỏ xương (mũi tên đứt) bao quanh ổ tủy có mật độ thấp hơn, chứa cả bè xương và mỡ (vòng tròn). Hình ảnh này được tối ưu hóa để hiển thị xương, đó là lý do tại sao các cơ và mỡ dưới da ít được nhìn thấy rõ.
MRI là một phương tiện tuyệt vời để nghiên cứu các thành phần của tủy xương, một thực tế làm cho nó rất hữu ích trong việc nghiên cứu bệnh lý tủy xương. Trong khi vỏ xương là phần của xương dễ được hình dung nhất trên X-quang thường quy, xương vỏ lại có cường độ tín hiệu rất thấp trên các chuỗi xung MRI thông thường (Hình 21.3).

HÌNH 21.3 MRI khớp gối bình thường. Khả năng hiển thị vượt trội của MRI đối với cấu trúc bên trong của xương và các mô mềm xung quanh được thấy trong hình ảnh cắt dọc giữa này của khớp gối. Có tủy mỡ ở đầu xa xương đùi (F), đầu gần xương chày (T), và xương bánh chè (P). Các gân cơ tứ đầu (mũi tên đen liền) và gân bánh chè (mũi tên trắng đứt) được thể hiện. Dây chằng chéo trước (mũi tên trắng liền) có thể nhìn thấy. Có mỡ tín hiệu cao trong đệm mỡ dưới bánh chè (FP). Lưu ý vỏ xương có tín hiệu rất yếu, hiện màu tối (mũi tên đen đứt).
Giải phẫu Xương và Khớp bình thường
Trên phim X-quang thường quy, các xương dài có vỏ xương đặc, đậm độ cao, bao bọc hoàn toàn một ổ tủy có đậm độ thấp hơn, chứa xương xốp được sắp xếp thành các bè xương, ngăn cách chủ yếu bởi các mạch máu, tế bào tạo máu và mỡ. Thân xương là hành xương, được giới hạn ở mỗi đầu bởi các đầu xương. Nơi hành xương và đầu xương gặp nhau (tức là, hành xương-đầu xương) là vị trí của sụn tăng trưởng ở trẻ em.
Tỷ lệ giữa xương vỏ và xương bè thay đổi ở các vị trí khác nhau của bộ xương và thậm chí ở các vị trí khác nhau trong cùng một xương (tức là, vỏ xương tự nhiên dày hơn ở một số nơi so với những nơi khác) (xem Hình 21.2A).
- Hình 21.4 chứa một sơ đồ của một khớp hoạt dịch điển hình và so sánh các cấu trúc được hình dung trên X-quang thường quy và MRI.

HÌNH 21.4 Sơ đồ, phim X-quang và hình ảnh MRI của một khớp thực sự. A. Sơ đồ khớp hoạt dịch cho thấy vỏ xương khớp, tương ứng với đường trắng, mỏng trong bao khớp, thường được bao phủ bởi sụn khớp hyalin. Xương ngay bên dưới vỏ xương khớp được gọi là xương dưới sụn. Bên trong bao khớp là màng hoạt dịch và dịch hoạt dịch. B. Trên phim X-quang thường quy, vỏ xương khớp (mũi tên trắng liền) và xương dưới sụn (mũi tên đen liền) có thể nhìn thấy, nhưng sụn và dịch hoạt dịch thì không (mũi tên trắng đứt). C. Một hình ảnh MRI T1W, cắt vành của khớp gối cho thấy sụn chêm trong (MM) và ngoài (LM), dây chằng chéo trước (ACL) và sau (PCL), sụn khớp (mũi tên đen đứt), bao khớp (mũi tên trắng đứt), dịch hoạt dịch (mũi tên trắng liền), và tủy trong xương dưới sụn (SC). Vỏ xương (mũi tên đen liền) tạo ra ít tín hiệu và có màu tối.
Các bệnh lý ảnh hưởng đến Mật độ xương
Ảnh hưởng của Sinh lý xương đến Giải phẫu xương
Xương phản ánh tình trạng chuyển hóa chung của cá thể. Thành phần của chúng đòi hỏi một chất nền collagen chứa protein (osteoid) mà trên đó khoáng chất xương, chủ yếu là canxi photphat, được biến đổi thành sụn và xương.
Xương liên tục trải qua các quá trình tu sửa bao gồm sự tiêu hủy xương cũ hoặc bệnh lý bởi các hủy cốt bào và sự hình thành xương mới bởi các tạo cốt bào. Tạo cốt bào chịu trách nhiệm sản xuất chất nền xương, trong khi hủy cốt bào tiêu hủy cả chất nền và khoáng chất.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.


ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ