Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. Chương 26: Nhận biết một số nguyên nhân thường gặp của bệnh lý nội sọ

76 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


Chương 26: Nhận biết một số nguyên nhân thường gặp của bệnh lý nội sọ

Recognizing Some Common Causes of Intracranial Pathology
William Herring, MD, FACR
Learning Radiology, 26, 321-346


Những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh thần kinh đã có tác động đáng kể đến việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý thần kinh, từ việc phát hiện và điều trị đột quỵ sớm hơn đến chẩn đoán sa sút trí tuệ kịp thời hơn, từ việc phát hiện và điều trị nhanh chóng các túi phình động mạch não đến khả năng chẩn đoán bệnh xơ cứng rải rác chỉ sau một đợt tấn công.

Câu hỏi Tình huống 26

Đây là hình ảnh chụp CT sọ não không tiêm thuốc cản quang của một bệnh nhân nam 68 tuổi bị ngã đập đầu vào cùng ngày và ngày càng mất phương hướng. Tiền sử lâm sàng liên quan là bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông máu để điều trị bệnh tim. Chẩn đoán là gì?

Xem câu trả lời ở cuối chương này.

Cả CT và MRI đều được sử dụng để khảo sát não và tủy sống, nhưng MRI là lựa chọn ưu tiên trong hầu hết các tình huống lâm sàng (Bảng 26.1). X-quang thường quy không có vai trò quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh các bất thường nội sọ.

Bảng 26.1: Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh não cho một số bất thường chọn lọc

Bất thường Lựa chọn ưu tiên Các phương pháp khác
Đột quỵ cấp Hình ảnh khuếch tán (xem Bảng 26.8) cho đột quỵ cấp hoặc nhồi máu lỗ khuyết, nếu có sẵn CT không cản quang có thể phân biệt xuất huyết với nhồi máu não
Đau đầu cấp và nặng CT không cản quang để phát hiện xuất huyết dưới nhện Chụp mạch MRI (MRA) hoặc chụp mạch CT (CTA) nếu phát hiện xuất huyết dưới nhện để tìm túi phình
Đau đầu mạn tính (với các đặc điểm mới) MRI không và có tiêm thuốc cản quang, hoặc MRI không tiêm thuốc cản quang CT không và có tiêm thuốc cản quang
Co giật MRI không và có tiêm thuốc cản quang. Thêm các lát cắt mỏng qua hồi hải mã ở bệnh nhân có tiền sử co giật thời thơ ấu CT không và có tiêm thuốc cản quang, có thể thay thế nếu không có MRI
Máu CT không cản quang Siêu âm cho trẻ sơ sinh
Chấn thương đầu CT không cản quang là phương pháp sẵn có và là lựa chọn hàng đầu trong chấn thương đầu MRI tốt hơn trong việc phát hiện tổn thương sợi trục lan tỏa nhưng cần nhiều thời gian hơn và không phải lúc nào cũng có sẵn
Bệnh lý động mạch cảnh ngoài sọ Siêu âm Doppler MRA là một phương pháp tuyệt vời; CTA tốt nhất để đánh giá hẹp mạch trước phẫu thuật
Não úng thủy MRI là phương pháp khảo sát ban đầu CT để theo dõi
Chóng mặt và choáng váng MRI có tiêm thuốc cản quang MRA nếu cần và/hoặc các lát cắt mỏng qua ống tai trong nếu cần
Khối u MRI không và có tiêm thuốc cản quang CT có tiêm thuốc cản quang nếu không có MRI
Thay đổi tri giác MRI không hoặc có tiêm thuốc cản quang CT không cản quang

 

Giải phẫu bình thường (Hình 26.1)

Chúng ta sẽ xem xét giải phẫu bình thường của não bằng hình ảnh CT.

Hình 26.1 Hình ảnh CT sọ não không tiêm thuốc cản quang bình thường. (A) Thùy trán (F); thùy thái dương (T); sừng thái dương (mũi tên); não thất tư (4); tiểu não (C); cầu não (P). (B) Bể trên yên (S); cuống đại não (mũi tên trắng); bể gian cuống (mũi tên đen). (C) Rãnh Sylvius (S); não thất ba (3); bể gian cuống (mũi tên đen); bể củ não sinh tư (mũi tên trắng). (D) Sừng trán của não thất bên (mũi tên trắng); nhân đuôi (C); não thất ba (3); thùy chẩm (O). (E) Nhân đuôi (C); nhân bèo (L); tuyến tùng vôi hóa (mũi tên). (F) Gối thể chai (mũi tên đứt nét); não thất bên (L); vách trong suốt (mũi tên đứt nét); thùy đỉnh (P); sừng chẩm (mũi tên đen); đám rối mạch mạc vôi hóa (mũi tên trắng liền); thùy chẩm (O).

Ở hố sau, não thất tư có dạng hình chữ U ngược. Giống như tất cả các cấu trúc chứa dịch não tủy trên CT, nó thường có màu đen. Phía sau não thất tư là các bán cầu tiểu não, phía trước là cầu não và hành não. Lều tiểu não ngăn cách các thành phần dưới lều của hố sau (tiểu não và não thất tư) với khoang trên lều.

Bể gian cuống nằm ở trung não và ngăn cách cặp cuống đại não (xuất phát từ mặt trên của cầu não). Bể trên yên nằm trước bể gian cuống và thường có dạng hình ngôi sao năm hoặc sáu cánh.

Các rãnh Sylvius đối xứng hai bên và chứa dịch não tủy (DNT). Chúng ngăn cách thùy thái dương với thùy trán và thùy đỉnh.

Nhân bèo bao gồm bèo sẫm (ở ngoài) và cầu nhạt (ở trong). Não thất ba có dạng khe và nằm ở đường giữa. Ở phía sau của não thất ba là tuyến tùng. Xa hơn về phía sau là bể củ não sinh tư.

Thể chai nối liền hai bán cầu đại não phải và trái và tạo thành mái của não thất bên. Phần trước được gọi là gối và phần sau được gọi là lồi.

Các hạch nền được đại diện bởi nhân dưới đồi và chất đen, cầu nhạt, bèo sẫm và nhân đuôi. Bèo sẫm và nhân đuôi được gọi là thể vân.

Sừng trán (còn gọi là sừng trước) của não thất bên ôm lấy đầu nhân đuôi. Hai sừng trán được ngăn cách bởi vách trong suốt ở đường giữa. Sừng thái dương, thường rất nhỏ, nằm thấp hơn và chứa trong thùy thái dương. Sừng sau (sừng chẩm) của não thất bên nằm trong thùy chẩm. Phần cao nhất của hệ thống não thất là thân của các não thất bên.

Liềm đại não nằm trong khe liên bán cầu, ngăn cách hai bán cầu đại não, và thường bị vôi hóa ở người lớn.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ