Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. Chương 27: Nhận biết các Bệnh lý Nhi khoa

56 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


Chương 27: Nhận biết các Bệnh lý Nhi khoa

Recognizing Pediatric Diseases
William Herring, MD, FACR
Learning Radiology, 27, 347-361


Trẻ em có những khác biệt về sinh lý so với người lớn và dễ mắc phải các bất thường trong quá trình phát triển và trưởng thành mà không thấy ở người lớn. Trẻ em cũng khác biệt về giải phẫu (ví dụ: tuyến ức) và nhạy cảm hơn với các tác hại của tia X. Chương này sẽ nêu bật một số bệnh lý nhi khoa phổ biến có liên quan đến các dấu hiệu hình ảnh học.

Câu hỏi Tình huống 27

Đây là hình ảnh chụp thẳng lồng ngực và bụng trên của một trẻ 6 tháng tuổi có các vết bầm tím ở lưng. Do có nghi ngờ trên lâm sàng, trẻ đã được chỉ định khảo sát toàn bộ hệ xương. Chẩn đoán có khả năng nhất là gì?

Xem câu trả lời đúng ở cuối chương này.

 

Hình 27.1 Thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh (TTN).* Có các dải mờ dạng đường quanh rốn phổi (vòng tròn), cũng như dịch trong rãnh liên thùy (mũi tên đen) và tràn dịch màng phổi dạng lá (mũi tên trắng). Phổi thường trong tình trạng ứ khí.

Các Bệnh lý được Thảo luận trong Chương này

  • Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
    • Thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh
    • Hội chứng suy hô hấp sơ sinh
    • Hội chứng hít phân su
    • Bệnh phổi mạn tính ở trẻ nhỏ
  • Bệnh phổi ở trẻ em
    • Bệnh đường thở phản ứng/Viêm tiểu phế quản
    • Hen phế quản
    • Viêm phổi
  • Mô mềm vùng cổ
    • Amidan và VA phì đại
    • Viêm nắp thanh quản
    • Viêm thanh khí phế quản (Bệnh Croup)
    • Dị vật đường tiêu hóa 
  • Các bệnh lý khác
    • Bóng tim to ở trẻ nhỏ
    • Gãy sụn tiếp hợp Salter-Harris
    • Ngược đãi trẻ em
    • Viêm ruột hoại tử (xem thêm Chương 19)
    • Teo thực quản có hoặc không có rò khí-thực quản
    • Hẹp phì đại môn vị (Chương 19)
    • Lồng ruột (Chương 19)
    • Loạn sản khớp háng phát triển (Chương 19)

Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Suy hô hấp là một trong những vấn đề thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh. Các manh mối về nguyên nhân bao gồm tuổi thai của trẻ, mức độ nghiêm trọng và diễn tiến của các triệu chứng, và hình ảnh trên phim X-quang ngực. Có nhiều nguyên nhân gây suy hô hấp, bao gồm các nguyên nhân từ tim mạch, chuyển hóa, huyết học và giải phẫu. Bốn nguyên nhân tại phổi sẽ được thảo luận, nhưng trước hết, cần thống nhất về tên gọi.

Các bệnh lý nhi khoa, giống như nhiều bệnh lý khác, có thể thay đổi tên gọi theo thời gian. Bảng 27.1 trình bày thuật ngữ chúng tôi sẽ sử dụng trong chương này và các tên gọi khác mà bệnh lý đó đã hoặc có thể được biết đến.

Bảng 27.1 Thống nhất Thuật ngữ

Thuật ngữ sử dụng trong Chương Các thuật ngữ khác có thể được sử dụng
Thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh (TTN) Ứ dịch phổi thai nhi
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh (NRDS) Rối loạn thiếu hụt Surfactant
Hội chứng suy hô hấp ở trẻ nhỏ
Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Bệnh màng trong
Hội chứng hít phân su Hít phân su ở trẻ sơ sinh
Bệnh phổi mạn tính ở trẻ nhỏ (CLD) Bệnh phổi mạn tính ở trẻ sinh non
Loạn sản phế quản phổi
Gãy sụn tiếp hợp Gãy Salter-Harris
Gãy đĩa sụn tiếp hợp
Gãy sụn tăng trưởng

 

Bảng 27.2 Biến chứng Điều trị – Chấn thương áp lực

Thông khí hỗ trợ với áp lực đỉnh hít vào cao và áp lực dương cuối kỳ thở ra có thể gây căng giãn quá mức và vỡ phế nang.

Biến chứng Ghi chú
Tràn khí kẽ phổi Vỡ một phế nang kèm theo sự bóc tách của không khí ngược theo bó mạch phế quản và khoang kẽ quanh bạch huyết có thể tạo ra nhiều túi khí nhỏ trong phổi, được gọi là tràn khí kẽ phổi. (Hình 27.6)
Tràn khí màng phổi Vỡ một phế nang liền kề với bề mặt lá tạng của màng phổi có thể khiến khí bóc tách ra ngoài vào khoang màng phổi, gây ra tràn khí màng phổi. (Hình 27.7)
Tràn khí trung thất Khí rò rỉ dọc theo các bó mạch phế quản của phổi cuối cùng sẽ đến trung thất và có thể gây ra tràn khí trung thất. (Hình 27.8)
Tràn khí màng ngoài tim Ở trẻ nhỏ, có thể có sự thông thương giữa trung thất và khoang màng ngoài tim. Khí bao quanh tim nhưng không vượt quá mức các mạch máu lớn có thể là dấu hiệu của tràn khí màng ngoài tim. (Hình 27.9)
Thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh (TTN)

Xảy ra ở trẻ sinh mổ hoặc sinh ngả âm đạo quá nhanh, thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Bệnh được cho là do sự chậm tái hấp thu dịch phổi của thai nhi.

Về mặt lâm sàng, TTN được đặc trưng bởi sự khởi phát ngay lập tức của thở nhanh và suy hô hấp nhẹ. Thường không cần đặt nội khí quản. Trẻ thường cải thiện trong vài giờ với liệu pháp oxy không xâm lấn và điều trị hỗ trợ, và hồi phục hoàn toàn sau 48 giờ.

ĐIỂM QUAN TRỌNG
  • Dấu hiệu hình ảnh của TTN:
    • Phổi thường ứ khí, mặc dù ít hơn ở trẻ sinh non.
    • Có thể có các dải mờ dạng đường quanh rốn phổi.
    • Cũng có thể có dịch trong các rãnh liên thùy và/hoặc tràn dịch màng phổi dạng lá (Hình 27.1).
Hội chứng suy hô hấp sơ sinh (NRDS)

Hội chứng suy hô hấp sơ sinh (NRDS) là một bệnh lý của trẻ sinh non, thường dưới 34 tuần tuổi thai. Tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của bệnh thường tăng lên khi trẻ càng non tháng. Có nhiều yếu tố nguy cơ, bao gồm ngạt chu sinh, thiếu oxy và đái tháo đường ở mẹ.

Nguyên nhân chính của rối loạn này là thiếu hụt surfactant. Nếu không có surfactant, các túi phế nang có xu hướng xẹp lại, dẫn đến xẹp phổi lan tỏa.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ