Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. Chương 28: Sử dụng Can thiệp Hướng dẫn bằng Hình ảnh trong Chẩn đoán và Điều trị (Điện quang Can thiệp)

74 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


Chương 28: Sử dụng Can thiệp Hướng dẫn bằng Hình ảnh trong Chẩn đoán và Điều trị (Điện quang Can thiệp)

Using Image-Guided Interventions in Diagnosis and Treatment (Interventional Radiology)
Jeffrey L. Weinstein, MD, FSIR,; Natasha Larocque, MD, FRCPC
Learning Radiology, 28, 362-381


Điện quang can thiệp (Interventional radiology – IR), còn được gọi là điện quang mạch máu và can thiệp (vascular and interventional radiology – VIR), là một chuyên ngành y khoa sử dụng hướng dẫn bằng hình ảnh để thực hiện các thủ thuật chẩn đoán hoặc điều trị xâm lấn tối thiểu. Hướng dẫn bằng hình ảnh có thể được cung cấp bởi máy chiếu X-quang (fluoroscopy), siêu âm (US), chụp cắt lớp vi tính (CT), hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI).

Câu hỏi Tình huống 28

Đây là hình ảnh từ phim chụp CT mạch máu cản quang bụng, lát cắt dọc (sagittal), của một bệnh nhân nam 80 tuổi có khối u bụng đập theo nhịp. Can thiệp hướng dẫn bằng hình ảnh có thể giúp ích như thế nào trong trường hợp này?

Câu trả lời ở cuối chương này.

Hình 28.1 Kỹ thuật Seldinger.* (A) Chọc qua da vào mạch máu bằng kim rỗng. (B) Đưa một dây dẫn (guidewire) không gây chấn thương qua kim vào lòng mạch máu. (C) Rút kim ra trong khi dây dẫn vẫn giữ nguyên vị trí. Ép lên vị trí chọc để cố định dây dẫn và ngăn chảy máu. (D) Đưa Catheter (catheter) chụp mạch vào mạch máu qua dây dẫn.

Các bác sĩ điện quang can thiệp thực hiện rất nhiều thủ thuật có thể được phân loại là can thiệp mạch máu hoặc không mạch máu và được phân chia nhỏ hơn theo hệ thống phân bố mạch máu hoặc hệ cơ quan mà thủ thuật được thực hiện.

Chương này sẽ thảo luận về các chỉ định, kỹ thuật và lợi ích của các can thiệp hướng dẫn bằng hình ảnh, bao gồm một loạt các thủ thuật can thiệp.

Tiếp cận Động mạch và Chụp Động mạch (Arteriography)

Tiếp cận động mạch và chụp động mạch là những kỹ thuật cơ bản của điện quang can thiệp, cho phép đánh giá chẩn đoán nhiều bệnh lý động mạch (ví dụ: rò động-tĩnh mạch, phình mạch, tắc mạch, hoặc hẹp mạch).

ĐIỂM QUAN TRỌNG

Kỹ thuật Seldinger là nền tảng cho việc tiếp cận mạch máu hiện đại, cả động mạch và tĩnh mạch. Phương pháp này, được mô tả lần đầu bởi Bác sĩ Sven Seldinger (một bác sĩ X-quang người Thụy Điển), sử dụng một cây kim rỗng để đi vào mạch máu. Sau đó, một dây dẫn được luồn qua kim này, kim sau đó được rút ra và thay thế bằng một Catheter được đặt qua dây dẫn. Sự trao đổi này là cơ sở cho các bước đầu tiên trong phần lớn các thủ thuật điện quang can thiệp nội mạch (Hình 28.1).

Chỉ định Tiếp cận Động mạch

Tiếp cận động mạch được sử dụng để tạo điều kiện cho các can thiệp động mạch dưới hướng dẫn hình ảnh (ví dụ: thuyên tắc mạch để cầm máu đang hoạt động, nong mạch đối với hẹp động mạch, và tiêm xơ đối với dị dạng động-tĩnh mạch).

Thủ thuật Tiếp cận Động mạch

Tiếp cận động mạch thường được thực hiện thông qua đường vào động mạch đùi hoặc động mạch quay, mặc dù các động mạch khác cũng có thể được sử dụng. Việc lựa chọn phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm loại can thiệp, hướng giải phẫu của hệ mạch, và sự hiện diện của bệnh lý đông máu.

Tiếp cận động mạch theo truyền thống được thực hiện dựa trên một mốc xương, giúp hỗ trợ việc ép động mạch để cầm máu sau khi thủ thuật hoàn tất. Trong trường hợp tiếp cận động mạch đùi, đoạn động mạch trên chỏm xương đùi được nhắm đến bằng cách sờ nắn, hướng dẫn bằng máy chiếu X-quang, và/hoặc siêu âm.

  • Sử dụng kỹ thuật Seldinger, một kim tiếp cận cuối cùng được trao đổi qua một dây dẫn để đặt một ống vào lòng mạch (sheath) (Bảng 28.1).

Bảng 28.1 Tóm tắt các Dụng cụ Can thiệp

Dụng cụ Mô tả
Kim tiếp cận Kim được sử dụng tại vị trí chọc cho các thủ thuật qua da; tất cả đều có một kênh trung tâm để đưa dây dẫn vào.
Dây dẫn (Guidewires) Các dây mỏng có độ dài, thành phần và độ mềm dẻo khác nhau được luồn qua kênh của kim tiếp cận, và qua đó các thiết bị khác, bản thân chúng cũng chứa một kênh rỗng, có thể được đưa vào.
Catheter (Catheters) Các cấu trúc hình ống thường làm bằng một loại nhựa nào đó với độ dài, đường kính, hình dạng và lớp phủ khác nhau, qua đó các chất có thể được rút ra khỏi hoặc đưa vào cơ thể.
Ống vào lòng mạch (Sheath) Một ống rỗng để tiếp cận mạch máu, thường làm bằng nhựa, cho phép trao đổi các Catheter trong một thủ thuật nhất định trong khi vẫn duy trì đường vào mạch máu qua cùng một vị trí chọc.
Dụng cụ nong (Dilator) Các Catheter ngắn, đầu nhọn được sử dụng để tăng đường kính của lỗ từ đường vào qua da đến một cơ quan, khoang hoặc mạch máu để cho phép Catheter, ống vào lòng mạch hoặc thiết bị khác đi qua dễ dàng hơn; đôi khi được sử dụng nối tiếp từ kích thước nhỏ đến lớn hơn.

Hướng dẫn bằng siêu âm trong quá trình chọc động mạch đôi khi có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận mạch máu, đặc biệt trong các trường hợp mạch đập yếu hoặc giải phẫu khó khăn.

Tiếp cận động mạch quay hoặc động mạch cánh tay tương tự như phương pháp tiếp cận động mạch đùi. Trong trường hợp tiếp cận động mạch cánh tay, cần cẩn thận chọn vị trí tiếp cận cho phép ép để cầm máu sau thủ thuật.

Khi đã có đường vào động mạch và một Catheter hoặc ống vào lòng mạch đã được đặt, việc tiêm thuốc cản quang chứa iod có thể được thực hiện để chụp động mạch ở vị trí mong muốn.

Lợi ích và Rủi ro Tiềm tàng của Tiếp cận Động mạch

Tiếp cận động mạch và chụp động mạch cho phép đánh giá chẩn đoán và xác định vị trí các bất thường và cung cấp một con đường để điều trị nội mạch bằng các phương tiện xâm lấn tối thiểu.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ