Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. CHƯƠNG 9: Nhận Biết Vị Trí Chính Xác Của Các Dây Và Ống Thông Cùng Các Biến Chứng Tiềm Tàng

40 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


CHƯƠNG 9: NHẬN BIẾT VỊ TRÍ CHÍNH XÁC CỦA CÁC DÂY VÀ ỐNG THÔNG CÙNG CÁC BIẾN CHỨNG TIỀM TÀNG: CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH TRONG ICU

Recognizing the Correct Placement of Lines and Tubes and Their Potential Complications : Critical Care Radiology 
William Herring, MD, FACR

Learning Radiology, 9, 79-91


Bệnh nhân trong các đơn vị chăm sóc tích cực hoặc hồi sức tích cực (ICU) được theo dõi thường xuyên bằng X-quang ngực di động để vừa kiểm tra vị trí của nhiều thiết bị hỗ trợ, vừa đánh giá tình trạng tim phổi của họ.

CÂU HỎI TÌNH HUỐNG 9

Bệnh nhân này vừa được đặt một ống thông tĩnh mạch trung tâm ở bên trái trong tĩnh mạch dưới đòn (mũi tên) và bạn được yêu cầu kiểm tra phim X-quang sau khi đặt để xem nó có được đặt đúng vị trí không. Câu trả lời của bạn là gì? Câu trả lời đúng xuất hiện ở cuối chương này.

Hình ảnh X-quang ngực của bệnh nhân sau khi đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm

Các bệnh thường gặp ở bệnh nhân nặng được thảo luận trong các chương khác (Bảng 9.1).

Bảng 9.1: Các Bệnh thường gặp ở Bệnh nhân nặng

Dấu hiệu hoặc Bệnh lý Được thảo luận trong
Hội chứng suy hô hấp cấp Chương 11
Hít sặc Chương 8
Xẹp phổi Chương 6
Suy tim sung huyết (phù phổi) Chương 11
Tràn dịch màng phổi Chương 7
Tràn khí trung thất Chương 24

Trong chương này, bạn sẽ nhận được những lời khuyên thực tế để đánh giá việc đặt thành công (hoặc không thành công) và vị trí cuối cùng của nhiều ống thông, dây, catheter và các thiết bị hỗ trợ khác được sử dụng trong ICU.

Thông tin về nhiều thiết bị khác có thể được tìm thấy trực tuyến (từ e-Hình 9.1 đến e-Hình 9.10 bên dưới).

e-Hình 9.1. Thay van động mạch chủ. (A) Có một van nhân tạo nằm chồng lên cột sống và hướng chéo theo chiều của van động mạch chủ (vòng tròn). (B) Một đường kẻ giữa carinarãnh tâm hoành trước (đường màu đỏ) có thể hữu ích trong việc xác định vị trí của van nhân tạo; van động mạch chủ (A) (vòng tròn) thường nằm trên đường này trong khi khu vực của van hai lá (M) nằm dưới đường này.

e-Hình 9.2. Thay van ba lá và van hai lá. Van ba lá có hướng gần như thẳng đứng trên phim chụp thẳng (mũi tên trắng trong hình A) và hướng ra trước trên phim chụp nghiêng (mũi tên đen trong hình B). Van hai lá thường được thấy ở bên trái cột sống trên phim chụp thẳng (mũi tên đen trong hình A) và ở phía sau trên phim chụp nghiêng (mũi tên trắng trong hình B). Lưu ý tiểu nhĩ trái giãn rất rõ (mũi tên trắng đứt nét) ở bệnh nhân bị hẹp van hai lá nặng này. Cũng có thể thấy một dây điện cực máy tạo nhịp đặt ở thượng tâm mạc, có thể nhận biết qua đầu hình “xoắn ốc” của nó (vòng tròn).

e-Hình 9.3. Thay van động mạch phổi. Van động mạch phổi nằm cao hơn so với các van tim khác. Nó được thấy trong (A) ở vòng tròn đen và trong (B) ở vòng tròn trắng. Van động mạch phổi không được thay thường xuyên như van động mạch chủ hay van hai lá. Các chỉ định phổ biến nhất cho phẫu thuật thay van động mạch phổi là hở van động mạch phổi có hoặc không có hẹp van, giãn thất phải, và rối loạn nhịp tim. Một số van nhân tạo hiện đang được thay thế bằng phương pháp đặt qua ống thông, không cần phẫu thuật.

e-Hình 9.4. Thiết bị hỗ trợ thất trái (LVAD). Các thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học được cấy ghép bằng phẫu thuật cho những bệnh nhân bị suy tim nặng và kháng trị với điều trị nội khoa hiện được sử dụng như một giải pháp thay thế vĩnh viễn cho ghép tim. Thiết bị được hiển thị ở đây, với hình ảnh được đảo ngược màu đen và trắng, là HeartMate. Bơm được cấy vào khoang trước phúc mạc hoặc ổ phúc mạc bên dưới tim (mũi tên đứt nét). Đây là một bơm dòng chảy liên tục không có hoạt động co bóp theo nhịp; do đó bệnh nhân nhận thiết bị này sẽ không bắt được mạch. Cannula đường vào được nối với đỉnh của thất trái (mũi tên liền). Cannula đường ra được gắn vào động mạch chủ lên (mũi tên đứt nét). Thiết bị có thể hoạt động bằng pin hoặc nguồn điện bên ngoài.

e-Hình 9.5. Bơm Impella. Đây là một bơm hỗ trợ thất trái được đặt qua ống thông. Bơm có thể được đưa vào qua động mạch đùi, sau đó luồn lên động mạch chủ xuống đến động mạch chủ lên (các mũi tên đen), qua van động mạch chủ và vào thất trái (các mũi tên trắng) để kết thúc trong thất trái (vòng tròn). Nó hút máu qua van động mạch chủ. Giống như bơm bóng đối xung động mạch chủ (IABP), nó thường được sử dụng để hỗ trợ tuần hoàn tạm thời ở những bệnh nhân bị sốc tim sau phẫu thuật tim và không đáp ứng với điều trị nội khoa tiêu chuẩn.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ