Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn, Ấn bản thứ 5. Phụ lục Điện tử B. Phân tích Bệnh lý Tim mạch theo ABC

44 phút đọc

Chẩn đoán Hình ảnh Nhập môn: Các Nguyên lý và Dấu hiệu Nhận biết, Ấn bản thứ 5
Tác giả: William Herring, MD, FACR – © 2024 Nhà xuất bản Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Chủ biên Bản dịch tiếng Việt)


Phụ lục điện tử B: Phân tích Bệnh lý Tim mạch theo ABC

The ABCs of Heart Disease
William Herring, MD, FACR
Learning Radiology, e-Appendix B, e21-e34


Đây là một hệ thống để chẩn đoán bệnh tim ở người lớn bằng cách đặt một loạt câu hỏi theo một trình tự nhất định, câu trả lời cho các câu hỏi này là những quan sát cơ bản nhất định được thực hiện chỉ từ phim X-quang ngực thẳng.

Hệ thống này chỉ dành cho “người lớn”. Tim của trẻ sơ sinh không hiển thị nhiều đường viền có thể nhận biết được như đã thảo luận ở đây, vì vậy việc đánh giá tim mạch ở trẻ sơ sinh phụ thuộc nhiều hơn vào các thông số như kích thước tim, tuần hoàn phổi, vị trí của các mạch máu lớn và các dấu hiệu lâm sàng.

Nó cũng phù hợp với những tình huống có thể thực hiện một số phép đo bằng thước kẹp điện tử trực tiếp trên hình ảnh kỹ thuật số.

Trước khi thảo luận về hệ thống, chúng ta sẽ xem xét các câu trả lời cho bộ câu hỏi cấu thành hệ thống. Những câu trả lời đó là tập hợp các quan sát cơ bản sau đây.

Kích thước Tim

Chỉ số tim-lồng ngực là đường kính ngang tối đa của tim chia cho đường kính trong lớn nhất của lồng ngực (từ mặt trong xương sườn này đến mặt trong xương sườn kia) (xem Chương 3). Ở người lớn bình thường, chỉ số tim-lồng ngực thường nhỏ hơn 50%. Chỉ số tim-lồng ngực là một cách tiện lợi để phân biệt hầu hết các trái tim bình thường với hầu hết các trái tim bất thường. Thật không may, nó cũng có những cạm bẫy.

CẠM BẪY TRONG CHẨN ĐOÁN

Cạm bẫy 1: Tim có thể có vẻ lớn (tức là lớn hơn 50% chỉ số tim-lồng ngực), nhưng vẫn là một trái tim bình thường. Điều này có thể do một nguyên nhân ngoài tim gây ra sự lớn tim biểu kiến, chẳng hạn như:

  • Bệnh nhân không thể hít thở sâu do:
    • Béo phì
    • Mang thai
    • Cổ trướng
  • Hoặc, các bất thường của lồng ngực chèn ép tim, chẳng hạn như biến dạng ngực lõm (pectus excavatum).

Giải pháp: Hãy quan sát bệnh nhân. Các yếu tố nêu trên thực sự hạn chế khả năng hít thở sâu của bệnh nhân sẽ không phải là những dấu hiệu khó nhận biết.

Cạm bẫy 2: Đôi khi tim có thể có kích thước bình thường (tức là đo được dưới 50% chỉ số tim-lồng ngực), nhưng vẫn là một trái tim bất thường.

  • Điều này có thể xảy ra khi có sự tắc nghẽn đường ra của máu từ các tâm thất, vì lúc đầu, các tâm thất phản ứng bằng cách phì đại, điều này không tạo ra sự lớn tim có thể nhận biết được.

Giải pháp: Bởi vì không phải tất cả các trái tim bất thường đều lớn, việc nhận biết các bất thường của tim ở những cá nhân này phụ thuộc vào việc đánh giá các đường viền của tim (Hình eB.1).

Hình eB.1 Các đường viền tim trên phim X-quang ngực thẳng. Có bảy đường viền tim có thể xác định được trên phim X-quang ngực thẳng. Ở phía bên phải của tim, từ trên xuống dưới, là động mạch chủ lên, chỗ lõm giữa động mạch chủ lên và nhĩ phải (nơi nhĩ trái lớn có thể xuất hiện), và chính nhĩ phải. Ở bên trái từ trên xuống dưới là cung động mạch chủ, thân động mạch phổi, một chỗ lõm (nơi nhĩ trái lớn có thể xuất hiện), và thất trái.

Các đường viền tim

Có bảy đường viền tim có thể xác định được trên phim X-quang ngực thẳng.

Động mạch chủ lên

Đường viền đầu tiên ở bên phải là động mạch chủ lên. Nó là một bờ có đậm độ thấp, gần như thẳng, có thể nhìn thấy ngay bên phải khí quản, phản ánh kích thước của động mạch chủ lên (Hình eB.2).

  • Về mặt giải phẫu, đường viền này thực sự đại diện cho tĩnh mạch chủ trên và các mạch máu cánh tay đầu nhưng, trên thực tế, nó phản ánh kích thước của động mạch chủ lên nằm ở vị trí trung tâm hơn.

Hình eB.2 Các đường viền bên phải của tim. Đường viền đầu tiên là một bờ có đậm độ thấp, gần như thẳng, có thể nhìn thấy ngay bên phải khí quản, phản ánh kích thước của động mạch chủ lên (mũi tên trắng liền). Nơi đường viền của động mạch chủ lên gặp đường viền của nhĩ phải, thường có một chỗ lõm nhẹ (mũi tên đen). Bờ phải của tim được tạo thành bởi nhĩ phải (mũi tên trắng đứt). Ở người lớn, nhĩ phải gần như không bao giờ lớn mà không có sự lớn đồng thời của thất phải.

Động mạch chủ lên có thể nhỏ như trong thông liên nhĩ (ASD) hoặc có thể nổi bật như trong các bệnh làm tăng áp lực hoặc lưu lượng trong động mạch chủ hoặc ảnh hưởng đến độ đàn hồi của nó như hẹp van động mạch chủ, hở van động mạch chủ, và bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch.

ĐIỂM QUAN TRỌNG
  • Động mạch chủ lên bình thường không nên lồi ra xa hơn về bên phải so với bờ phải của tim trên một phim X-quang thẳng không bị xoay (Hình eB.3).

Hình eB.3 Động mạch chủ lên lớn trong hẹp van động mạch chủ. Động mạch chủ lên bình thường không bao giờ nên lồi ra xa hơn về bên phải so với bờ phải của tim (mũi tên liền) trên một phim X-quang thẳng không bị xoay. Ở bệnh nhân này, động mạch chủ lên (mũi tên rỗng) lồi ra xa hơn về bên phải so với bình thường (bệnh nhân cũng bị vẹo cột sống, làm tăng nhẹ sự nổi bật). Bệnh nhân này bị hẹp van động mạch chủ. Sự nổi bật của động mạch chủ lên là do giãn sau hẹp, đặc trưng thấy ngay sau các chỗ hẹp có ý nghĩa huyết động trong các động mạch lớn.

Dấu hiệu “Bờ đôi” của lớn nhĩ trái

Nơi đường viền của động mạch chủ lên gặp đường viền của nhĩ phải, thường có một chỗ lõm nhẹ (xem Hình eB.2).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ