ĐẠI CƯƠNG.
Lao cột sống (Tuberculosis of the spine) là một bệnh nhân nhiễm khuẩn xương, khớp và đĩa đệm đặc hiệu do trực khuẩn lao (Bacille de Kock – BK) gây ra khu trú ở cột sống. Lao cột sống được Percival Pott mô tả đầu tiên (1779 – 1783) bao gồm 4 triệu chứng cổ điển là: mục xương (carie asseuse), biếu sống lưng (gibbosite), áp xe và liệt. Năm 1980, Kork tìm ra trực khuẩn lao. Năm 1910, Albee là người đầu tiên tiến hành phẫu thuật lao cột sống có ghép xương cố định phía sau.
Lao cột sống là bệnh thứ phát, chỉ xuất hiện khi cơ thể đã bị lao tiên phát (thường là lao phổi), đôi khi sau một bệnh lao thứ phát như lao tiết niệu – sinh dục. Đường truyền từ ổ lao tiên phát sang lao cột sống là đường máu.
Lao cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất trong lao xương khớp: 36,4% (Kocnhep), 40% (Génerd Marchand). Tại Pháp lao cột sống ở người lớn chiếm 60,73% và ở trẻ em là 39,26%.
TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH LAO CỘT SỐNG.
Giai đoạn xâm nhập (giai đoạn toàn phát):
Ổ lao thường xuất hiện ở thân đốt sống (ở gần bờ trước hay bờ sau) tạo thành những hang lao nhỏ; trong hang chứa đầy mủ lao, xung quanh là một vòng thưa xương. Trong giai đoạn này thường đĩa đệm chưa bị tổn thương; tuy nhiên ở một số lao cột sống được khởi đầu bằng sự hẹp đĩa đệm đơn thuần mà không thấy tổn thương trên film thường hoặc film chụp cắt lớp vi tính.
Giai đoạn huỷ hoại (giai đoạn khởi phát):
Thân đốt sống bị phá huỷ nhiều, do thân đốt sống phải chịu một lực cơ học là trọng lượng cơ thể nên dần dần thân đốt sống bị “sập” trên một phạm vi rộng hay hẹp (có thể ở một, hai hoặc ba thân đốt sống).
Ở vùng cột sống thắt lưng tổn thương có thể làm cho các đốt sống chồng lên nhau theo hình chêm và tạo ra gù cột sống, có khi còn làm cho cột sống bị vẹo (scoliose). Đĩa đệm cũng bị phá huỷ một phần hoặc toàn bộ.
Giai đoạn phục hồi (giai đoạn ổn định):
Trong giai đoạn này tình trạng phá huỷ xương ngừng lại và thân xương có thể dần dần bị vôi hoá nếu tổn thương nhỏ, chỉ có thể thấy dấu vết duy nhất còn lại là một khe khớp bị hẹp.
Nếu tổn thương nặng nề sẽ hình thành một khối xương chắc giữa hai thân đốt sống kế cận đã bị huỷ hoại hoàn toàn làm cho tổ chức xương xốp của hai thân đốt sống áp sát nhau.
Tuy nhiên tổn thương này đã ở giai đoạn hồi phục nhưng ra không có sự chắc chắn là bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Bệnh có thể tái phát sau một thời gian “nằm im” có khi 3 – 4 năm, thậm chí hàng chục năm.
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG.
Triệu chứng toàn thân:
Có hội chứng nhiễm độc lao ở các mức độ khác nhau: mệt mỏi, chán ăn, sút cân, sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm…
Triệu chứng tại chỗ:
Đau cột sống:
Đau tự phát, lúc đầu đau âm ỉ, rồi tăng dần lên, đau sâu, đau nhiều về đêm. Đau dữ dội khi kích thích vào gai sau đốt sống tổn thương, đau tăng lên khi đè tay lên đầu, lên vai; có biểu hiện như đau thần kinh liên sườn, đau dạ dày, đau ruột thừa, đau bàng quang có khi đau xuống vùng bẹn…
Tình trạng đau khiến bệnh nhân (BN) không cúi được, muốn nhặt một vật gì dưới đất thì phải ngồi xuống.
Co cứng cơ cạnh sống lưng:
Do đau nên tình trạng co cứng hai khối cơ lưng (như dây thừng) đó là triệu chứng dây cương (Kocnhep).
Tư thế bệnh nhân:
Luôn luôn chú ý giữ yên tĩnh cột sống. Trong trường hợp lao cột sống cổ, BN dùng tay đặt dưới cằm, một tay ôm sát gáy giữ lấy đầu, đi từng bước ngắn, đầu hơi ngửa. Nếu là lao cột sống lưng thì thân người gấp nhẹ, nếu là lao cột sống thắt lưng thì thân người ưỡn ra sau.
Trong trường hợp có bọc mủ lạnh vùng cơ thắt lưng chậu thì BN đi lết hai bàn chân, khớp háng và khớp gối gấp, thân người ngả về phía trước.
Bọc mủ lạnh:
Khi ổ mủ phát triển ra nông thì nhìn và sờ rõ thấy sưng nề (không nóng đỏ), có dấu hiệu ba động, chọc hút ra mủ loãng.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ