Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Điều trị tăng huyết áp từ y học chứng cứ đến thực hành lâm sàng

36 phút đọc

ThS.BS. NGUYỄN NGỌC THANH VÂN

PGS.TS.BS.CHÂU NGỌC HOA

Bộ môn Nội Tổng quát, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

 

PHẦN 1. Tình hình kiểm soát huyết áp và sự thay đổi quan điểm điều trị

1.      Dịch tễ học tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trên thế giới.

Năm 2000, 26,4% dân số tăng huyết áp, tương ứng 972 triệu người. Đến năm 2010, tỷ lệ này tăng lên 31,1%, tương ứng 1,39 tỉ người. Gần đây, một thống kê cho thấy số người mắc tăng huyết áp đã tăng đến khoảng 1,64 tỉvào năm 2017. Tuy nhiên, sự gia tăng này không đồng đều, chênh lệch rõ giữa các vùng kinh tế: 73,4% ở các nước có thu nhập trung bình- thấp, và 8,3% ở nước thu nhập cao.

Không chỉ gia tăng về tần suất, các biến cố liên quan tăng huyết áp cũng tăng lên.

Từ năm 1990-2015, tần suất tử vong hàng năm do tăng huyết áp tâm thu tăng từ 97,9 (KTC 95% 87,5-108,1) lên 106,3 (KTC 95% 94,6-118,1) mỗi 100.000 dân. Tại Hoa Kỳ, từ năm 2006-2016, tỷ lệ tử vong do tăng huyết áp tăng 18%. Ước tính điều trị tăng huyết áp có thể làm giảm 30,4% tử vong ở nam và 38% ở nữ. Đến năm 2040, tăng huyết áp được dự đoán yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến tử vong sớm do bệnh tật.          Chi phí cho điều trị tăng huyết áp tại Hoa Kỳcũng khá cao,vào khoảng 55,9 tỷ USD, dự đoán sẽ tăng đến 221 tỷ USD năm 2035.

Mặc dù tỷ lệ tăng huyết áp còn cao và mang lại nhiều hệ quả nặng nề, tỷ lệ kiểm soát huyết áp chỉ cải thiện chủ yếu ở các quốc gia đã phát triển. Từ năm 2000 đến năm 2010, tỷ lệ hiện mắc giảm 2,6% và tỷ lệ kiểm soát tăng 10,5% ở các nước thu nhập cao. Trong khi đó, tại các nước thu nhập trung bình-thấp, tỷ lệ hiện mắc tăng 7,7% và tỷ lệ kiểm soát giảm 0,7%.

Cụ thể, tại Hoa Kỳ, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp giảm nhẹ từ 48,4% năm 1999-2000 xuống còn 45,4% năm 2015-2016. Tỷ lệ kiểm soát huyết áp trên những bệnh nhân có điều trị tăng mạnh từ 25,6% lên 43,5%.

Ngược lại, tại Trung Quốc, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp tăng từ 29,6% lên 44,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm soát huyết áp lại giảm nhẹ từ 9,3% xuống 7,2%.

Tình hình tương tự cũng được ghi nhận ở Việt Nam, trong 7 năm từ 2008 đến 2015, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp tăng gần gấp đôi từ 25,1% lên 47,3%, trong khi tỷ lệ kiểm soát huyết áp chỉ tăng nhẹ từ 10,7% lên 17,9%.

Các số liệu trên cho thấy việc kiểm soát huyết áp dù quan trọng, nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu, đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Sự thất bại trong kiểm soát huyết áp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tăng gánh nặng tử vong và bệnh tật toàn cầu. Chính vì thế, quan điểm điều trị tăng huyết áp được cập nhậtthường xuyên.

2.      Lịch sử điều trị tăng huyết áp

Tăng huyết áp được ghi nhận từ những năm 2600 TCN, trong sách y học cổ của Trung Quốc “quá nhiều muối làm mạch máu xơ cứng” và được điều trị chủ yếu bằng châm cứu, trích máu. Ở các nước phương Tây, tình trạng này cũng được ghi nhận từ TCN trên những trang giấy papyrus của Hy Lạp. Tuy nhiên, chỉ đến khi Nikolai Korotkoff phát minh ra cách đo huyết áp tâm thu và tâm trương bằng huyết áp kế, huyết áp mới bắt đầu được đánh giá thường quy trên lâm sàng.

Từ năm 1940s trở về trước, tăng huyết áp được xem là một cơ chế bù trừ quan trọng, và không nên hạ áp trừ khi huyết áp > 180/110 mmHg. Chỉ sau khi Tổngthống Hoa Kỳ Roosevelt qua đời năm 1945, việc kiểm soát trị số huyết áp mới bắt đầu được đề ra. Đến đầu những năm 1960s, nhờ kết quả của công trình Framingham Heart Study và sự hiểu biết rõ hơn về tính đa cơ chế trong tăng huyết áp, cũng như sự ra đời của lợi tiểu và ức chế Beta, điều trị tăng huyết áp bắt đầu phát triển.

Trong lịch sử, chỉ định điều trị tăng huyết áp đã thay đổi liên tục, bắt đầu từ tăng huyết áp ác tính (trước 1940s), đến tăng huyết áp tâm trương (JNC I), điều trị cả huyết áp tâm thu – tâm trương (JNC III), điều trị các dân số đặc biệt (JNC VII) đến điều trị cá thể hoá. Cho đến nay, kiểm soát huyết áp được xem là một trong những thành công lớn nhất của y học dự phòng. Điều trị huyết áp từ giai đoạn sớm cùng với các yếu tố nguy cơ khác giúp cải thiện tỷ lệ tử vong, chất lượng cuộc sống của người bệnh, từ đó giảm gánh nặng bệnh tật và kinh tế.

Từ những khuyến cáo đầu tiên năm 1977, đến nay đã có vô số khuyến cáo về tăng huyết áp. Khuyến cáo mới nhất được công bố năm 2018 tại Hội Tim mạch Châu Âu.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ